Tản Mạn Về Tục Ngữ Phong Dao

Những Diễn Tả Thiếu Công Bằng Đối Với Phụ Nữ

Hoàng Ngọc Liên

 

 

Qua bộ sách Tục Ngữ Phong Dao sưu tầm về Tục Ngữ Phong Dao Việt Nam có giá trị để đời của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, người viết xin có vài thiển ý về Người Xưa đã có những diễn tả thiên lệch, nếu không muốn nói là thiếu công bằng đối với Phụ Nữ.

Chúng ta đều hiểu, ngày xưa xã hội ảnh hưởng quan niệm ố và cả hành động ố trọng nam khinh nữ của Trung Hoa, nên trong văn chương đại chúng, ít nhiều cũng có những diễn tả thiên lệch về hình ảnh phụ nữ, ảnh hưởng không nhỏ trong cảm quan quần chúng.

Nhưng cái gì cũng vừa phải thôị Các Lão Tiền Bối khí quá chăng, khi gán những lời sau này cho phụ nữ:

Chỉ đâu mà buộc ngang trời,

Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lợ

hay:

Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn,

Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Duyên kia ai đợi mà chờ,

Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình!

và:

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng,

Từ anh chồng cũ đến chàng là nămà

Còn như yêu vụng dấu thầm,

Họp chợ trên bụng đến trăm con người!

 

Tuy không chỉ đích danh đó là lời của phụ nữ, khi đọc, ai cũng hiểu là do phụ nữ nóị Nhưng chắc hẳn phụ nữ không phải là tác giả. Khi nghe tôi đọc một câu phong dao có nội dung không hảo cảm về phái yếu, một bà bạn tôi chép miệng: "Đó là mấy Ông đặt ra thôị Đàn bà đâu có tệ thế!"

Có thể nào, phụ nữ Việt lại thốt ra:

Anh đánh thì tôi chịu đòn,

Tính tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừạ

Thế mà cánh đờn ông còn nói mỉa mai, những câu:

Chém cha cái nước sông Bờ,

Ngỡ rằng báng nước ai ngờ báng con!

Tưởng rằng khăn trắng có tang,

Ai ngờ khăn trắng ra đàng ve traị

Chồng chết còn chửa hết tang,

Là đà ngấm ngáp như mang cá mè!

Hỡi cô yếm thắm, bùa đeo,

Chồng cô, cô bỏ, cô theo chồng ngườị

Thiệt là không công bằng, nhứt là đối với quả phu.. Không ít phụ nữ, dù mới mười tám, đôi mươi mà người chồng nằm xuống, vẫn ở vậy cho đến già. Mà lại ở với gia đình chồng, chịu thiệt thòi, đối xử bất công! Ngoài những tiết phụ được vua biết mặt, chúa biết tên, còn vô vàn quả phụ trong lũy tre xanh thờ chồng vì phong tục, tập quán, gia phong, lễ giáọ

Trong xã hội nông nghiệp, nạn tảo hôn hầu như nơi nơi đều có. Con trai có khi 7, 8 tuổi đã lấy vợ mà cô vợ thường trên 15, 16 tuổị Nhà chồng cần người làm ruộng cho nên con gái trên 20 mà chưa ai tới hỏi, coi như quá lứạ Không được cưới, hỏi, phụ nữ ố nhất là phụ nữ nông thôn cam - bề gái già cho hết đờị

Bản năng tình cảm con người, phái yếu muốn yêu và được yêu là lẽ thường. Nhưng họ không bao giờ dám ngỏ ý trước phái nam. Dù cho à tình trong như đã mà đối tượng không biểu lộ giao tình, cô gái có khi ôm mối tình đơn phương mãi mãi, vì sự biểu lộ không được xã hội đồng tình.

Như trên đã ghi, con trai mới nứt mắt đã có vơ.. Vậy những cô gái lỡ thì nếu có tình, chỉ là người đàn ông đã có gia đình. Nếu bà, cô nào lỡ thương người đàn ông đã có vợ, cũng tự biết mình không nên không phảị Làm sao dám xúi người đàn ông:

Anh về dãy vợ anh ra,

Con anh thơ dại thì đà có tôị

như người xưa gán cho lời nói này, mà thường là chịu lép một bề!

Cánh đàn ông thừa hiểu thế nào là me.-ghẻ-con-chồng, đâu có thể tin là Bà Ấy nuôi con thơ cho anh tử tế! Còn người đàn bà đã thừa hiểu:

Chớ tham ngồi mũi thuyền rồng,

Tuy rằng tốt đẹp nhưng chồng người tạ

Dễ mấy ai dám hăm he sẽ à đoạt đức lang quân của người ta:

Ao sâu thì lắm ốc nhồi,

Chồng mình lịch sự nửa người nửa tạ

Ghen lắm thì đứt ruột ra,

Chồng mình thì tới tay ta phen nàỵ

Tình cảm bị dồn nén, có thể à bùng rạ Đôi khi có người quá cô đơn, hay bị ruồng bỏ mà.. phá rào cản đến buông thả. Dù sao cũng không đến nỗi quá đáng như những câu được gán cho là lời của phụ nữ:

Em là con gái Phủ Từ,

Lộn chồng trả của theo Sư chùa Viềng.

Đói ăn thịt chó nấu riềng,

Bán rao mảnh bát lấy tiền nộp cheọ

Dù còn thiếu thốn bao nhiêu,

Xin làng đừng có cắm nêu ruộng chùa!

hay:

Gái này là gái chả vừa,

Gái bán vải tấm, gái lừa vải con.

Gái này là gái chả non,

Gái lường Chợ Quán, gái buôn Chợ Cầụ

Người đàn bà có chồng, như gông đeo cổ, có khi vì bị cha mẹ ép uổng:

Mẹ em tham thúng xôi rền,

Tham con loin béo, tham tiền Cảnh Hưng.

Em van bảo Mẹ rằng đừng,

Mẹ ham, Mẹ hứ, Mẹ bưng ngay vàọ

Bây giờ chồng thấp, vợ cao,

Như đôi đũa lệch, so sao cho vừả!

So không vừa đành lòng gánh chịụ Làm gì có chuyện:

Có ăn thiếp ở cùng chàng,

Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp luị

Hay thiếp đâu chịu kém chàng:

Chồng đánh bạc, vợ đánh bài,

Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng.

hoặc gan cóc tía:

Hai tay cầm hai trái hồng,

Trái chát phần chồng, trái ngọt phần traị

Đêm nằm thở vắn than dài,

Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều!

bởi vì bị ép uổng, nên người con gái coi chồng như nợ oan gia:

Chồng gì anh, vợ gì tôi,

Chẳng qua là cái nợ đời chi đâỵ

Mỗi người một nợ cầm tay,

Người xưa nợ vợ, người nay nợ chồng.

vì cô tự hào:

Chị thâm bởi tại anh màỵ

Khi xưa chị cũng hạt chay đỏ lòm.

Dù cho trong cảnh phòng không chiếc bóng, dù bị tán tỉnh:

Hỡi cô mặc yếm hoa tằm,

Chồng cô đi lính cô nằm với aỉ

Đã mấy ai, như lời diễn tả:

Cô đẻ một đứa con trai,

Chồng về chồng hỏi con ai thế nàỷ

Lại còn trả lời:

"Con tôi đi kiếm về đây,

Có cho nó gọi bằng thầy thì chọ"

hay có tư tưởng vượt lễ giáo:

Có chồng càng dễ chơi ngang,

Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai!

Có chồng thì mặc có chồng,

Còn đi chơi trộm kiếm đồng mua raụ

Chuyện à như đùạ

Trong gia đình nhà chồng, cô dâu mới về bị hai lực lượng "nghiệp chướng" là bà Mẹ chồng và cô em chồng đè nén, áp bức, chê bai:

Con gái mới về nhà chồng,

Thổi cơm nồi đồng nửa sống, nửa khệ

Nói nghiệp chướng cũng không ngoa, vì hầu như tự ngàn xưa, chuyện Nàng Dâu, Mẹ Chồng đã thành nỗi dày vò, đày đọa người con gái "là con người ta":

Con gái là con người ta,

Con dâu mới thực Mẹ Cha mua về!

Tại sao lại muả Vì tục gả bán chăng? Nên đa số các bà Mẹ Chồng cứ hành xử quyền:

Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng!

Bởi có những gia đình tá điền nghèo, công nợ chủ ruộng "lãi đẻ ra lãi" đến độ không tài nào trả được. Họ chỉ còn cách đem con gái thế chấp. Bà Mẹ chồng coi như phải mất bao nhiêu tiền bạc mới có vợ cho con. Bà tự cho quyền hành hạ nàng dâu cho bõ! Nhưng điều trái khoáy là Bà lại muốn con rể và thông gia đối xử tốt với con gái mình, nhưng Bà lại hành hạ con gái người ta khi về làm dâu Bà!

Từng có quá nhiều chuyện Nàng dâu bị Mẹ chồng cay nghiệt, đày đọa, tưởng không cần nhắc lại ở đâỵ

Phần đông các cô gái bất hạnh này cắn răng chịu đựng, hiếm có ai dám có ý:

Con dâu vào nhà, Mụ già ra ngõ.

hay phản ứng quá đáng:

Thương chồng phải khóc mụ gia,

Gẫm ta với mụ có bà con chi!

Đói thì ăn khế, ăn sung,

Trông thấy mẹ chồng thì nuốt không trôị

Còn em chồng? Em trai chồng không bao giờ ghét bỏ chị dâu:

Một trăm ông chú không lo,

Lo vì một nỗi mụ O nỏ mồm.

Còn em gái chồng thì:

Giặc bên Ngô

Không bằng Bà Cô bên chồng!

Nói nghiệp chướng, cũng không ngoa, khi đa số các cô vợ trẻ thường bị em gái chồng ghétà"như đào đất đổ đi"! Các bà Cô này còn được quý bả Mẹ chồng đồng tình hành hạ, đến nỗi có một thuở, do ảnh hưởng Tự Lực Văn Đoàn với tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, một số đã dứt khoát bỏ chồng.

Tuy vậy, thuở ấy, tác giả Tấm Lòng Vàng, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã viết Cô Giáo Minh với chủ trương xây dựng, tức "đóng cửa dạy chồng" và vẫn chung thủy với chồng, gia đình nhà chồng.

 

Trình bày vài ý nghĩ về những diễn tả không công bằng đối với phụ nữ qua Tục Ngữ Phong Dao, người viết chỉ muốn nhắn nhủ vợ chồng các bạn trẻ hôm nay nên đối với nhau bằng sự tương kính. hiểu biết để bảo toàn hạnh phúc lứa đôi, do không còn những nhận định thiếu công bằng đối với phái yếụ

Hoàng Ngọc Liên