Hồn Đại Việt tại Montreuil

(do Đoàn Văn Nghệ Sĩ Văn Bá & Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris tổ chức ngày 09/11/2003)

Lê Mộng Nguyên

 

 

Tôi nhận được thư đề ngày 17/03/2003 của Bác sĩ NGUYỄN Văn-Bá như sau : Kính gởi nhạc sĩ Hàn lâm Lê Mộng Nguyên. Được nhà báo Bình Huyên cho biết nhạc sĩ có cho thâu vào băng các bản nhạc đã sáng tác. Xin nhạc sĩ gởi cho một bản vì tôi rất thích nhạc Lê Mộng Nguyên... Sau khi nhận được CD Ca Khúc Kỷ Niệm Lê Mộng Nguyên (do tác giả tự làm, không bán), Bs Kịch tác gia cho biết cảm tưởng (30/03/2003) : Cảm ơn nhạc sĩ đã tặng cho CD. Tôi và bà xã lấy làm hứng thú chăm chú nghe trong một giờ những nhạc khúc du dương. Từ lâu chúng tôi chỉ biết có bài Trăng Mờ Bên Suối. Hôm nay được nghe những bài khác, lấy làm khâm phục tài của nhạc sĩ... Và nhất là bức thư bằng tiếng Pháp của phu nhân Sylviane NGUYỄN cùng một ngày :  Cher Monsieur. J.ai écouté le CD de vos oeuvres enregistrées au Canada et j.ai découvert, au-delà du célèbre morceau Lune vague au bord du ruisseau, beaucoup d.autres chansons mélodieuses, dont celles sur Hué et Dalat en particulier. Merci pour votre amabilité et toutes nos félicitations pour votre talent si fécond. Je ne suis pas surprise que vous soyez connu au Vietnam où en aout 2002, j.ai rencontré Madame Tôn Nữ Hỷ Khương, Monsieur Khai Trí et la directrice du restaurant Ba Miền, belle-soeur du célèbre chanteur Trịnh Công Sơn, qui tous louent vos qualités musicales... Với những lời rất thành thật thốt tự đáy lòng, anh chị Văn Bá đã làm tôi xúc động và ngay từ lúc được giấy yêu cầu tham dự tích cực vào buổi sinh hoạt Văn Học & Nghệ Thuật hồn đại Việt tại Montreuil (ngoại ô Paris), do anh chị Văn Bá đồng tổ chức với nhà thơ Đỗ Bình (Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris), tôi đã không ngần ngại nhận lời...      Hơn nữa, tôi đã có dịp thưởng thức những vở kịch của VB : Lưu Bình Dương LễHồn Trương Ba ma anh hàng thịt được trình diễn nhiều lần tại Pháp (lần cuối trong ngày Văn Hóa Lyon 14/09/2003 mà tôi được mời diễn thuyết về Trăng Mờ Bên Suối,  Qua Dòng Ký Ức Của Sông Nước Năm Xưa...). Lần này, trong chương trình, ngoài LBDL , có thêm vài đoạn trích Lệ Chi Viên (Nguyễn Trãi và Thị Lộ) và nhất là Cổ Loa : Trọng Thủy Mỵ Châu mà nhân dịp chuyện thần tiên này tôi đã chú thích  nhiều lần trên nguyệt san Nghệ Thuật (Montréal) trong màn kịch nhạc Mỵ Châu Trọng Thủy của Lê Mộng Nguyên :   ... Tình yêu lãng mạn có thể đi đến tận cùng, cực hạn, nghĩa là đến phản bội (hay phụ phàng, phụ ước), nhưng lúc nào cũng với một tâm hồn vô tội, tinh khiết ... Màn ca kịch ngắn được viết vào khoảng năm 1947, nghĩa là hai năm trước Trăng Mờ Bên Suối, lúc tôi vừa ra khỏi tuổi ấu thơ thường say mê đọc đi đọc lại lịch sử nước nhà. Tôi quyết chọn giữ mối tình bất diệt giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu dưới đời nhà Thục để làm hứng cảm cho bài hát. Hơn nữa thời ấy có thể xem như là nguồn gốc nước ta mà cũng là khởi thủy cuộc diễn tiến của dân tộc Việt Nam. Đoạn I của bài ca diễn tả oan hồn Mỵ Châu hiện lên rất mờ ảo sau khi bị cha già chém :

Chiều dần buông trong khói sương chiều vương

Ngày tàn mơ nhắc chi thêm buồn lòng ta

Nhìn xem trăng lên vờn ánh sương ngà

Chàng nơi đâu, bóng chàng đâu ? em mong chờ !

Hận một đời thôi từ nay giấc mơ xưa còn tìm đâu, bóng em phai mờ

Trong Đoạn II : Mặc xiêm giáp cởi trên mình ngựa, Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc. Đến núi Mộ Dạ đuợc tin nàng chết, chàng buồn rầu, xuống ngựa, than khóc tìm lại dấu người xưa :

Chiều nay đi theo vết nàng đâu đây

Dừng cương ta trông chim chiều xa bay

Bóng nàng đâu ? Bóng nàng đâu ? Ta mong em bao ngày, nào em đâu ?

Hàng thùy dương vương sầu đau ôm hờn, đôi ta biệt ly sầu

Mỵ Châu ơi ! Bóng nàng đâu ? Bóng nàng đâu ? Ta mơ rồi !

Từ nay dưới suối vàng, tình yêu thôi lìa tan !

Tình ngàn năm thôi từ nay vết dấu xưa còn tìm đâu, bóng ai phai mờ

Nhà văn, TS Hàn lâm Thái Văn Kiểm (hiện diện trong cử tọa cùng với phu nhân) được mời lên nói đôi lời chúc tụng Đoàn Văn Bá và nhất là Bs soạn kịch gia và phu nhân Sylviane (đã nhiều lần làm thuyết minh bằng Pháp ngữ một cách duyên dáng, rõ ràng). TS Thái Văn Kiểm nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa cung (arc) và (arbalète) trong thần thoại An Dương Vương. Sau đây là đoạn trích vở kịch một hồi, bốn cảnh lưu bình dương lễ của VĂN BÁ, Bác sĩ nhãn khoa, nguyên giảng nghiệm viên tại trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Nhân vật : Lưu Bình (Lê Vinh Quang, luật gia) ; Dương Lễ (Văn Bá) ; Dương Lễ phu nhân (Lệ Sương, Dược sĩ) ; Châu Long (Lệ Châu, Dược sĩ) ; Quân hầu ; Quang cảnh : Công đường của thái thú Dương Lễ. Cảnh 1,  Kéo màn lên : Duơng Lễ ngồi giữa công đường : Ta, thái thú Dương Lễ, từ ngày trấn nhậm hạt này, mưa thuận gió hòa, dân lành an cư lạc nghiệp, trộm cướp tiêu trừ, quan lại tham ô cũng dứt. Quân hầu đi vào chấp tay  cúi đầu : Bẩm thượng quan, có tân khoa Lưu Bình đến thăm. Dương Lễ : Quân bây, hãy trải chiếu điều từ cổng vào đến đây, và binh sĩ làm hàng rào danh dự, bồng súng đón tiếp tân khoa theo đúng nghi lễ dành cho một vị trạng nguyên. Cảnh 2, Lưu Bình bước vô ; Dương Lễ đứng lên cúi đầu thưa : Tiểu đệ là Dương Lễ lấy làm hân hạnh được chào mừng trạng nguyên đại huynh. Lưu Bình cười gằn : Người còn nhớ Lưu Bình này à ?... Dương Lễ : Đại huynh ơi ! Sông dầu cạn, núi dầu mòn, mối tình huynh đệ vẫn còn như xưa... Lưu Bình : A, người còn nhớ ! Thế mà ta chẳng may bị sa sút, đến tìm người hầu mong được giúp đỡ thì người cho quân hầu ra bảo rằng : quan tôi đang ngơi. Ngươi lệnh quân hầu dọn cho ta một chén cơm hẩm với một quả cá thiu, ăn chưa kịp xong thì ngươi lệnh quân hầu đuổi ra khỏi cửa và nói thêm rằng : Bần tiện chi giao bất khả vong. Dương Lễ : Thưa đại huynh, đó là một sự hiểu lầm... chẳng qua là một sự ngộ nhận. Lưu Bình : Người muốn diễu với ta. Người muốn nhạo ta đấy hả  ? Dương Lễ : Xin đại huynh bớt cơn thịnh nộ để cho tiểu đệ được phân giải. Quay lại bảo quân hầu : Quân bây vào trong mời phu nhân ra đây. Cảnh 3, Dương Lễ phu nhân bước vào, chấp tay cúi đầu : Tiểu muội xin kính chào trạng nguyên đại huynh. Lưu Bình : Hừ, trạng nguyên đại huynh ! Vợ chồng nhà ngươi chỉ là một phường giả dối. Ngươi đã quên chén cơm hẩm, quả cá thiu và cốc nước lã ngày xưa rồi chăng ? Dương Lễ phu nhân : Thưa đại huynh, tiểu muội và phu quân làm thế nào quên được việc ấy, nhưng chẳng qua là tiểu muội và phu quân muốn cho đại huynh tỉnh ngộ, từ bỏ người nơi xa hoa phù phiếm, cuộc vui đầy tháng nụ cười suốt đêm, để chí công đèn sách. Lưu Bình :... Nếu ta không may mắn gặp được nàng Mạnh Thường Quân lo cơm áo và giúp ta đèn sách, thì giờ này ta đã trắng xương rồi ... (Có tiếng hát từ xa) Đôi ta kết chặt dải đồng, Dầu chưa chăn gối tình thâm đã nồng, Quanh năm buôn bán ven song, Sách đèn cơm áo cho chồng em lo, Em thường khuyên nhủ nhỏ to, Xôi kinh nấu sử để chờ hội thi, Mai sau trúng tuyển khoa kỳ, Kiệu chàng võng thiếp vinh qui về làng. Lưu Bình : Quái lạ ! Giọng ca này, bài hát này ! Đúng là nàng rồi ! Tạo sao nàng lại ở đây ?   ... Dương Lễ phu nhân : Quân bây mời hiền muội của ta ra đây. Cảnh 4, Châu Long bước vào : Tiện thiếp xin kính chào quan trạng. Lưu Bình : Trời ơi nàng ! Sao Nàng ở đây ? Từ hôm yết bảng nàng bỏ đi đâu, cho tôi tìm nàng khắp nơi ! Châu Long chỉ vợ chồng Dương Lễ : Xin giới thiệu cùng  quan trạng, hiền tỷ và hiền huynh của thiếp. Lưu Bình : Ối thôi ! Bây giờ tôi mới rõ. Tôi đã hiểu lầm   hai người bạn tốt của tôi. Hiền huynh và hiền tỷ ơi ! Dẫu tôi đầu thai nã kiếp, tôi chưa trả hết nợ này. Tấm lòng vàng kia tôi xin ghi tạc đến muôn đời . Dầu muôn kiếp chưa thôi. Tôi chỉ xin hiền huynh và hiền tỷ cho phép tôi được vầy duyên với Châu Long. Đó là tình nặng, đó là ơn sâu...

    Với những lời bình dị, không cầu kỳ, không khách sáo, Biên Đạo Văn Bá đã chiếm đóng tâm hồn cử tọa qua ba màn cảnh Lệ Chi Viên, Cổ Loa : Trọng Thủy Mỵ Châu (Văn Đức,Lâm Vinh,Ngọc Hiến ... ) và nhất là màn cuối Lưu Bình Dương Lễ. Các nghệ sĩ trong Đoàn: Văn Bá, Lê Vinh Quang, Lệ Châu, Lệ Tuyết, Lệ Sương, Kim Hoa, Như Trúc và Sylviane Nguyễn vân vân đã làm nổi bật những mối tình oan trái và đau khổ trong hai màn kịch đầu nhưng hài lòng trong kết cục đầy hạnh phúc của tình bạn và của hai kẻ xa nhau nhưng nay được sum họp bất ngờ, mãi mãi. Hơn nữa, Nụ Cười (Gandhi) do Kim Hoa đọc và Như Trúc diễn ngâm bản dịch của Văn Bá, đã đem lại hạnh phúc cho mọI người : Nụ cười có tốn chi đâu /  Người cho không thiệt, Người thu thêm /  Nụ cười không thoáng qua mau /  Đôi khi hình ảnh in sâu trí người /  Không ai có thể tự hào /  Giàu sang phú quí cần đâu tiếng cười /  Dẫu rằng cơ cực hơn người /  Cũng đừng nên bảo ta cười cho ai /  Cười cho tổ ấm nhà êm /  Cho tình thân hữu càng thêm vững bền /  Cho người mệt mỏi nghỉ yên / Cho người nản chí được lên tinh thần... vân vân.

Trong màn tâm tình của tác giả về những giaì điệu trữ tình quê hương giưa hai thế hệ nhạc sĩ xưa và nay với sự góp mặt của các nhạc sĩ: Xuân Lôi, Lê Mộng Nguyên, Trịnh Hưng, Mạnh Bích và Linh Chi, Trang Thanh Trúc, nhà thơ Đỗ Bình điều khiển chương trình bắt đầu giới thiệu từng mỗi nhạc sĩ lão thành cho cử tọa và sau đó hai nhạc sĩ thuộc thế hệ trẻ, những mầm non đang lên, nẩy nở. 

 

Về Phần Văn Nghệ  : Phụ trách Âm thanh và Piano Trần Văn Toàn, Ánh sáng Ngọc Lam, Sáo Trần Tam Nguyên, Đàn bầu Xuân Lôi, Guitare Ngọc Bích, dưới sự điều khiển chương trình của nhà thơ Đỗ Bình (MC) và sau khi Ban Tổ Chức đồng ca Hồn Đại Việt ... Tình Hoài Hương  của Phạm Duy được nữ ca sĩ Đỗ Quyên với giọng soprano léger trình bày trong lúc Thúy Hằng (phu nhân Đỗ Bình) đơn ca như réo rắt Tiếng Sáo Chiều Quê của Thu Hồ , tiếng sáo lâng lâng như tình yêu của người bạn quá cố : Chiều vương sáo êm du say hồn quê / Gió vi vu lay tình quê / Lòng tha thiết mong ngày về / Chiều quê, tình quê, nào ai đang vui nắn khúc say mơ : Mơ tiếng tiêu đây hồn núi sông / Ai lắng nghe theo giòng nước trong, chiều quê ? ... Kế đó, Đường Về Quê Hương của Lam Phương do nữ ca sĩ Hải Yến với giọng thánh thót như chuông vàng, đã làm xúc động hơn một quả tim. Tôi biết Hải Yến cách đây đã lâu, rồi từ dạo ấy bặt tin tức, nay nghe lại thật là một hạnh phúc không bờ bến, một hạnh phúc thanh tao. Nhưng cặp nghệ sĩ đã làm tôi ngạc nhiên nhất, vui sướng nhất là đôi uyên ương Phạm Đình Liên và Minh Cầm . Hôm nay có lẽ là lần  đầu tiên tôi được nghe một giọng ca của Minh Cầm vừa đúng với tâm hồn, đúng với tình cảm, đúng với trạng thái trong Tình Nghê Sĩ của Đoàn Chuẩn Từ Linh, với đàn đệm guitare espagnole rất   thích hợp của phu quân Phạm Đình Liên. Nỗi Lòng Người Đi của Anh Bằng do Philippe đơn ca với giọng hát lão luyện nhưng đầy ý thơ và nhạc tính, đã làm rung động tất cả mỗi một người.

     Nhạc sĩ Xuân Lôi tên thật là Phạm Xuân Lôi sinh năm 1917 tại Hà Nội trong một gia đình nhạc sĩ là thân phụ Phạm Xuân Trang... Ông thành lập ban nhạc Lôi Tiên, đàn cho ban Bích Hợp. 1949-1950, ông lênThái Nguyên và gia nhập ban văn hóa vụ do trưởng ban Nguyễn Tuân điều khiển. Trong không khí tự do hồi ấy, ông được làm quen với những văn nghệ sĩ nổi tiếng như Phan Khôi, Văn Cao, Đào Duy Anh, Nguyễn Đình Thi, Đoàn Phú Thứ, Nguyễn Xuân Khoát, Tô Vũ, Canh Thân, Lê Mộng Long, Quốc Vũ... 1953, ông vào Nam , chơi nhạc ở các vũ trường Sài Gòn trong lúc ông sáng tác đến hàng trăm bản nối tiếng... đươc các nữ ca sĩ Kim Thu và Ngọc Xuân v. v. trình bày hôm nay.

      Nhà thơ Đỗ Bình nhắc đến Lê Mộng Nguyên, một nghệ sĩ, một Hàn lâm viện học sĩ, một giáo sư đại học, môt luật sư đã từng vang bóng một thời ... nhưng hôm nay, anh chỉ muốn nói một khía cạnh : nhạc sĩ tác giả Trăng Mờ Bên Suối và Chiều Vàng Năm Xưa. Về TMBS, ông Chủ tịch CLBVH Paris tự hỏi tại sao LMN làm được một khúc ca trở thành bất hủ ngay lúc tác giả đương thời thanh xuân ? Bởi vì trong TMBS, lời thì là lời thơ mà ý thì là ý nhạc, tất là anh Lê Mộng Nguyên đã bắt được cái tính nhạc ở trong thơ. Và cái bài thơ ấy chỉ được phổ một lần mà thôi...  Vậy thì có bao nhiêu người phổ nhạc  chỉ bắt cái âm, cái thanh nhưng họ không bắt cái hồn của bản nhạc; hồn của bản nhạc là tính nhạc. May thay anh LMN cũng là một thi sĩ, do đó anh tự phổ và chính sự phổ đó đã đem bản nhạc của anh đứng chung với các nhà nhạc lớn ở Việt nam như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Văn Cao... , tất cả những bậc đàn anh, bậc thầy đó đã làm những ca khúc để lại cho đời (trích lời ĐB đã nói trong Chiều Tha Hương 03/06/2000 tại Viện Đông Á Paris : x. Nghệ Thuật số 77 th. 08-2000).

     Anh Đỗ Bình xin lỗi chỉ nhấn mạnh hôm nay đến hai tác phẩm Trăng Mờ Bên Suối (1949) và Chiều Vàng Năm Xưa (2001) mà thôi mặc dầu Lê Mộng Nguyên là tác giả của  nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như Bài Thơ Huế, Nhớ Huế, Mỵ Châu Trọng Thủy, Mơ Dà Lạt, Một Chiều Thương Nhớ, Hoàng Hoa Thôn, Quê Tôi, Việt nam Thắm Tươi, Ly Hương, Xuân Tha Hương, vân vân... Theo thi sĩ Đỗ Bình , Lê Mộng Nguyên đã đạt mực tối cao của nhạc lý trong hai bài nói trên và nhất là trong Chiều Vàng Năm Xưa  mà theo nữ ca sĩ Tuyết Dung là ‘’hậu’’ của Trăng Mờ Bên Suối. Không bao giờ một nhạc sĩ đã đi thấu tâm hồn và tri thức của tuyệt mỹ như trong bài CVNX và theo nhà thơ Đỗ Bình, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên đã gom góp tất cả tơ lòng trong một bài mà có thể nói là bất hủ, ngang hàng với TMBS cùng một tác giả.

       Chiều Vàng Năm Xưa được nữ ca sĩ Tuyết Dung trình bày ...   với giọng hát nữ trầm nhất, chữ Pháp gọi là Voix de Contralto nghĩa là tương đương với giọng nam  Voix de Basse, và cách trình bày thông minh (hình dáng thướt tha trong tà áo Việt Nam sáng chói), giọng hát truyền cảm, tuyệt vời, liêu trai ... đã làm xúc động và rung động con tim của mọi người (không phân biệt tuổi tác) trong cử tọa. Trăng Mờ Bên Suối  được ca sĩ Bs Phạm Đăng Thiện, với giọng Ténor (giọng nam tối cao) và nhất là giọng cao mạnh (chữ Pháp gọi là Fort Ténor hay Ténor de Grand Opéra), trình bày một cách huy hoàng nhưng tâm hồn tế nhị trong một hứng cảm dạt dào. Kế đó, như chương trình đã định trước, ca sĩ Phạm Đăng (bút hiệu của Bs Phạm Đăng Thiện trong giới ca nhạc) trình bày Thu Trên Sông Seine (Thơ Vương Thu Thủy, Nhạc Lê Mộng Nguyên) với đàn đệm synthétiseur Trần Văn Toàn... rất hấp dẫn, rất cảm động...  Ca sĩ Phạm Đăng vừa mới cho ra 1 CD Nỗi Đam Mê Muộn Màng (sau CD đầu 10 Tình Khúc Đắm Say) cũng với 10 tình ca rất lãng mạn, rất buồn tha thiết của nhiều tác giả lừng danh.

        Trong bốn nhạc sĩ lão thành mà nhà thơ Đỗ Bình muốn giới thiệu cho khán thính giả Chiều Văn Hóa Hồn Đại Việt   tại Montreuil, sau Xuân Lôi và LMN lẽ dĩ nhiên có Trịnh Hưng  mà TB Đại Chúng (số 103, 01-15 th. 08-2002) tóm tắt tiểu sử như sau : Trịnh Hưng lấy tên thật làm bút hiệu, nhưng trong căn cước mang tên là Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1930 tại Hà Nội, quê quán Bắc Ninh. 1945-1953 theo kháng chiến chống thực dân Pháp, đội phó văn công Trung Đoàn Thăng Long. 1954 hồi cư về Hà Nội, sau đó di cư vào Nam và mở lớp dạy nhạc qua bộ môn : Đàn, luyện giọng và sáng tác. Bắt đầu sáng tác từ năm 1950, nhưng mãi đến năm 1956 mới được công chúng đón nhận qua những ca khúc quê hương : Lối Về Xóm Nhỏ, Tôi Yêu, Lúa Mùa Duyên Thắm, Trăng Soi Duyên Lành, Tình Thắm Duyên Quê... Sau năm 1975 bị kẹt lại, nhạc sĩ Trịnh Hưng đã bị bắt đi tù hết 8 năm, vì sáng tác nhạc phẩm Ta Quyết Tâm Giết Lũ Hồ để phản đối chế độ CS. Sau khi mãn tù 1990, Trịnh Hưng được gia đình bảo lãnh sang Pháp. Ra hải ngoại ông vẫn tiếp tục sáng tác nhạc và đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học ở hải ngoại qua nhiều thể loại. Bài Lối Về Xóm Nhỏ  được nổi tiếng nhất, được nhiều người biết nhất, hôm nay được ca sĩ Kim Thu (vừa xuất bản CD Tình Hoài Hương) trình bày với giọng hát lão luyện của một nhà nghề nữ đã từng hát trong những đêm dạ vũ VN. Trịnh Hưng vừa xuất bản Tập nhạc tôi yêu Tình Khúc Dân Ca Quê Hương Việt Nam ra mắt trong Chiều vinh danh nhạc sĩ Trịnh Hưng tại FIAP ngày 05/10/2003 do Thư Viện Diên Hồng tổ chức với lời Tựa của Ns Lê Mộng Nguyên có đoạn nói về bài ca được quần chúng thích nhất :... Lối Về Xóm Nhỏ viết theo một nguồn cảm hứng dạt dào đối với quê hương (là cả một Symphonie pastorale) cũng dựa trên cung ré majeur (như bài Tôi Yêu) nhưng theo lối hành nhạc Cha-Cha-Cha (Trịnh Hưng với bản này và 5 bản khác... thuộc về những nhạc sĩ khai sáng vào cuối thập niên 50 qua 1960 và vài năm sau đó, một loại nhạc đượm tình dân tộc mà giới bình dân dán tên là dân ca Mambo :

Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca / Ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà / Dào dạt bao tình thương trong mái lá / Bờ dâu xanh cô gái hát êm êm / Tầm mai chín gởi anh dâng mẹ hiền / Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên ...

     Sinh năm 1929, nhạc sĩ Mạnh Bích là giáo sư Pháp văn dưới chế độ Cộng Hòa VN tại Marie Curie, Jean Jacques Rousseau, La Salle Taberd, Fraternité, Institut Francais v. v. Các thầy nhạc đầu tiên của MB là Ns Văn Giảng, Ưng Lang và tiếp đó là với các nhạc sư Grégor và Vincent d’Indy ở Đà Lạt. 1975 : ông bị cộng sản bắt đi tù cải tạo sau khi thất bại cuộc vượt biên với gia đình. Qua Pháp năm 1981 nhờ sự bảo lãnh của chính phủ Pháp, ông hiện là giáo sư hưu trí văn chương Pháp tại Taverny và Le Bourget (Académie de Versailles). Thôn Trang do Mạnh Bích sáng tác năm 1958 (Lời của Nguyên Diệu) là tác phẩm tiêu biểu của tác giả, được quần chúng yêu thích nhất. Bài này được ca sĩ Ngọc Xuân trình bày Chiều Văn Hóa, một cách duyên dáng, quê mùa... Trong CD Mạnh Bích vừa ấn loát : Riêng bản Thôn Trang được trình bày hai lần, mở đầu và kết thúc, với hai cặp ca sĩ tài tử Quang Linh-Vân Khánh và Bích Lộc-Cao Duy... (Bình Huyên). Mạnh Bích từ 1990 là một văn sĩ, một triết  gia (Tam Giáo và Việt Tính, 2001) nhiều hơn là nhạc sĩ :Giòng Sông Trầm Lặng,1997; bằng tiếng Pháp : Le Viet Nam crucifié - 2000 mà tôi đã khen ngợi trên nhiều báo chí, v.v., và Lá Rụng, một truyện dài sẽ ra mắt đồng bào tại FIAP, chiều ngày 30/11/2003.

     Nhà thơ Đỗ Bình đặt ra câu hỏi cho mỗi một người nhạc sĩ được đưa lên sân khấu phỏng vấn : Anh (hay em)khi viết bài hát thì viết cả lời lẫn nhạc cùng một lần ?  Đó là phần đông những bản nhạc tôi sáng tác như TMBS và CVNX, nhưng khi phổ nhạc 1 bài thơ thì bất thành vấn đề. Hơn nữa, phương pháp phổ nhạc của tôi dựa trên sự kính trọng người thi sĩ, cho nên không bao giờ tôi dám sửa đổi hoặc tráo lộn tâm tình bằng lời của tác giả (xin xem : Giao Mùa - Thơ Phạm Ngọc, Thu Trên Sông Seine -Thơ Vương Thu Thủy, Thề Non Nước - Thơ Tản Đà, Tình Vô Vọng - Thơ Bích Thuận... ).

     Sau 4 nhạc sĩ lão thành, đến lượt  Trang Thanh Trúc và Linh Chi là hai nhạc sĩ trẻ tuổi đại diện cho phong trào mới ở hải ngoại, được nhà điều khiển chương trình giới thiệu cho cử tọa. Theo Nhóm MKH (Em Ca Hát) trên mạng lưới... Trang Thanh Trúc sinh ngày 5 tháng 3, năm 1964 tại Nam Vang. Bắt đầu học dương cầm năm 1973 rồi tự học các nhạc cụ khác như tây ban cầm, sáo, măng cầm. Sáng tác nhạc phẩm đầu tiên năm 1979 mang tên Tháng 9, mùa thu và em. Năm 1997, nhạc phẩm Gọi Người Xa Vời được Thúy Nga phát hành qua giọng ca của Don Hồ trong CD Vực Sâu Hạnh Phúc... Năm 2000, Ban Giám Khảo Âm Nhạc hội họp trong chiều ngày 28 tháng 02 (gồm Ns Trần Quang Hải, nữ ca sĩ Bạch Yến, Ns Lê Mộng Nguyên, Ns Lê Thành  Đông, Ns Nguyễn Duy Thiện) đã trao Giải Nhất  cho Tháng 9 và Một Người của Trang Thanh Trúc. Từ  dạo ấy , TTT làm rất nhiều nhạc và phổ nhạc rất nhiều thơ : Nàng đã ấn hành CD Juste Pour Toi (do TTT phổ nhạc, Tây Ban Cầm Trần Bá Tùng, Thơ Trần Anh Kiệt) năm 2002 và vừa rồi đã cho ra mắt CD Những Ngày Tháng Không Quên gồm 12 bài thơ của Phạm Ngọc trong Chiều nhạc vinh danh Trịnh Hưng tại FIAP ngày 05/10/2003. TTT rất nổi tiếng trên mạng lưới qua hai Nhóm Nhạc Việt và Em Ca Hát, trong lúc nữ ca sĩ nhạc sĩ vĩ cầm Linh Chi (cũng thuộc phong trào nhạc trẻ) được yêu chuộng nhất. Theo tiểu sử  MKH : Linh Chi tốt nghiệp vĩ cầm và Nhạc Pháp Trung Cấp tại Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon, sau 1975 tiếp tục Chương trình Đại Học Âm Nhạc về Phối Khí và điều khiển Hợp Xướng - Dàn Nhạc. Biết xử dụng các nhạc cụ như Violon, Viola, Flute, Guitare, Piano... Được Giải Nhất   soliste trong chorale của Hội Việt Mỹ lúc 11 tuổi. Linh Chi là một nhà soạn nhạc có biệt tài ngay lúc 15 tuổi, phần đông là những tình khúc lãng mạn. Nàng có giọng ca rất thánh thót, dễ thương, dễ cảm, thường hay hát chung với Tuyết Dung trong Nhóm SiliconBand của Ns Nguyễn Minh Châu. Đã xuất bản năm 2000 : CD Tâm Sự Gởi Về Đâu mà trong đó nàng hát chung với ca sĩ Phạm Đăng và năm 2001 CD Dạ Quỳnh Hương (một thành công mỹ mãn). Trang Thanh Trúc, Linh Chi cùng với Ngô Càn Chiếu,  Mộng Trang, Jazzy Thảo Hương, Lê Hoài Anh, Trần Lê Khang và Nguyễn Linh Quang vân vân... là những nhạc sĩ đang lên (ở Âu Châu), tất cả thuộc thế hệ thứ hai, rất tiêu biểu cho phong trào nhạc mới của những năm đầu đệ tam thiên niên kỷ.

 

                                                               Lê Mộng Nguyên (Paris)