Thơ Đông, Thơ Tây
 
Linh Thảo

 

 
Ngày xưa, Nguyễn Khuyến từng có thơ khi tiếp bạn đến chơi nhà:
 
Đầu trò tiếp khách trầu không có
Bác đến chơi đây: ta với ta !
 
Bà Huyện Thanh Quan khi qua đèo Ngang làm thơ tức cảnh:
 
Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng: ta với ta !
 
Mở tiệc đãi bạn trong vườn đào mận, Lý Bạch nói:
 
"Huống dương xuân triệu ngã dĩ yên cảnh, đại khối tá ngã dĩ văn chương, hội đào lý chi phương viên tư thiên luân chi lạc sự !".
 
(Huống chi mùa xuân cho ta cảnh đẹp, trời đất cho ta mượn văn chương, hội họp ở vườn đào mận thơm, niềm vui ở nơi đạo lớn !)
 
Người Á đông ít khi biểu lộ cái tôi rõ rệt, thường ký thác cái "tôi" riêng vào cái "ta" chung. Cái ta chung chung này có thể hiểu là cái tôi của mình mà cũng có thể là cái tôi của mọi người.
 
Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai
 
Người phương Tây thì khác. Cái tôi của họ lúc nào cũng được bộc lộ theo cung cách của mỗi cá nhân, mặc dù họ thường nói "cái tôi là đáng ghét" (le moi esthaissable). Bởi vì cái tôi ở ngoài đời, đối với họ, khác cái tôi ở trong thơ. Với thơ, cái tôi càng được nhắc đến chừng nào thì cá tính của con người càng được biểu hiện đậm nét. Cũng vì điều này mà nhà thơ Pháp Jacques Prévert từng nói:
 
Je suis comme je suis
(Tôi thế nào thì tôi thế ấy)
 
tức là ông muốn thể hiện cái bản ngã của mình ở trong thơ, để có bản sắc riêng, mà khi đọc một bài thơ nào đó người ta cũng có thể biết là của J. Prévert, dù không thấy đề tên tác giả.
 
Cũng vì trong thơ Việt xưa ít khi đề cao cái tôi lẫn vào cái ta, nên trong lối xưng hô giữa hai người nam nữ cũng có cách nói uyển chuyển riêng: chàng với thiếp, chàng với nàng, ai với ai, mình với ta, qua với bậu, đây với đó v...v...
 
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
(Chinh Phụ Ngâm)
 
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi
(Kiều)
 
Ai vẫn thương Ai vẫn nhớ Ai
Khuyên Ai chớ vội giận hờn Ai
(Hải Văn)
 
Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
(Ca dao)
 
Chim chuyền bụi ớt líu lo
Lòng qua thương bậu ốm o gầy mòn
(Ca Dao Miền Nam)
 
Kể từ ngày ai lấy đó, đó ơi
Đó không phân đi nói lại một đôi lời cho đây hay
(Ca Dao)
 
Nhiều thế kỷ sau, khi ngọn gió Tây phương thổi vào xã hội Việt Nam thì hai tiếng "anh em" mới được sử dụng rộng rãi, thông thường trong cách xưng hô giữa đôi lứa trẻ trung, tự nhiên, không ngượng ngùng:
 
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
(Thái can)
 
Lòng em nhớ lòng anh từ vạn kỷ
Gặp hôm nay nhưng hẹn đã ngàn xưa
(Huy Cận)
 
Thật ra, thì trong ca dao từ xưa vẫn có những tiếng "anh em" theo cách nói bình dị của dân gian:
 
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
 
mà không đậm chất lãng mạn của phương Tây, như Xuân Diệu:
 
Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi
Anh nhớ em của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời ...
 
o0o
 
Khác với giới bình dân tự do bộc lộ tình cảm của mình qua những câu ca dao trữ tình, các nhà thơ cổ điển từ xưa vẫn ngần ngại khi đề cập đến vấn đề nam nữ, như lễ giáo vẫn thường khuyên: "nam nữ thọ thọ bất thân". Mãi đến thế kỷ thứ 19, họ mới có đôi chút phóng túng khi hưởng thụ thú hát ả đào:
 
Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn biết cái chi chi
(Dương Khuê)
 
hay "khóc mướn thương vay" kẻ hồng nhan bạc phận:
 
Chi phấn hữu thần lân tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
 
(Dày phấn son tàn đời vẫn nuối
Mỏng văn chương đốt lụy còn lưa
(Nguyễn Du)
 
hoặc mơ người đẹp:
 
Ai lên tử các thanh vân
Hỏi thăm ả Tố chiều xuân thế nào
Cầm âm một khúc gởi trao
Cậy lòng dì gió đưa vào xuân cung ....
(Phạm Thái)
 
Từ thế kỷ 16, Ronsard, nhà thơ Pháp đã bạo dạn ngỏ lòng mình với người mình yêu một cách trực tiếp:
 
Vivez, si m' en croyez, n' attendez à demain
Cueillez dès aujourd' hui les roses de la vie
(Sonnet pour Hélène)
 
(Hãy sống, nếu tin tưởng tôi, đừng chờ đến ngày mai
Hãy hái ngay hôm nay những đóa hồng của cuộc đời)
(Tình ca cho Hélène)
 
Đến thế kỷ 18, 19 thì phương Tây đã tiến xa trên đường tình lãng mạn với Lamartine, Musset, Verlaine, Comtesse de Noailles (Pháp), Lord Byron (Anh), Walt Whitman, Robert Burns (Mỹ)... Lamartine khóc cho cuộc tình không trọn với Elvire, trong bài "L'isolement" (Cô đơn), khi mất nàng:
 
Fleuves, rochers, forêts, solitudes si chères,
Un seul être vous manque et tout est dépeuplé
(Hỡi sông, núi, rừng, vẻ quạnh hiu thân mến,
Một người thôi vắng bóng thảy hoang sơ)
 
Verlaine, cảm thu gợi nhớ dĩ vãng, cất bước giang hồ:
 
Et je m' en vais
Au vent mauvais
Qui m' emporte
Deça, delà
Pareil à la feuille morte
 
(Và tôi ra đi
Trong gió hắt hiu
Cuốn tôi theo nó
Vất vơ đây đó
Như là lá khô)
 
Robert Burns ví người yêu như đóa hồng (Oh, my love is like a red, red rose), như điệu nhạc (my love is like the melody) và nhà thơ yêu tha thiết, chân thành:
 
Till a ' the seas gang dry, my dear,
And the rocks melt wi ' the sun;
And I will love thee still, my dear,
While the sands o ' life shall run.
 
(Cạn biển khô sông chẳng cạn tình,
Dù cho trời đất sẽ tan tành
Và yêu em, tôi còn yêu mãi,
Dù tận cùng kiếp số nhân sinh.)
 
Và Walt Whitman để linh hồn ông phóng ra cho tình yêu như con nhện nhả tơ:
 
The soul, reaching, throwing out for love,
As the spider, from some little promontory, throwing out filament
 
(Linh hồn, đạt đến, phóng ra cho tình yêu,
Như con nhện, từ mỏm đất nhỏ, nhả tơ)
 
Bước sang thế kỷ 20 thì thơ Âu Mỹ đi sâu vào nội tâm con người, vẫn từ những tình khúc bất diệt đến những biểu cảm về ý nghĩa cuộc đời. Guillaume Apollinaire, nhà thơ Pháp, với cuộc tình buồn:
 
J' ai cueilli ce brin de bruyère
L' automne est morte souviens - t' en
Nous ne nous verrons plus sur la terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens - toi que je t' attend
 
(Ta bứt đây thạch thảo một nhành con
Em nhớ chăng mùa thu kia đã chết
Chúng ta sẽ trên cõi đời vĩnh biệt
Hương thời gian mùi thạch thảo còn nguyên
Và đừng quên ta vẫn đợi chờ em)
 
Jacques Prévert nói đến hạnh phúc con người với ý nghĩa nghịch lý:
 
Avec des craies de toutes les couleurs
sur le tableau noir du malheur
il dessine le visage du bonheur
 
(Với những viên phấn đủ màu
trên tấm bảng đen bất hạnh
hắn vẽ khuôn mặt hạnh phúc)
 
Về cá tính tự nhiên của con người:
 
Je suis comme je suis
Je suis faite comme ça
Que voulez - vous de plus
Que voulez - vous de moi
 
(Tôi thế nào thì tôi thế ấy
Tôi đã là như vậy
Người muốn thế nào hơn được
Người muốn gì ở tôi được)
 
Và về mối liên quan giữa người đời:
 
C' est dans la glace des autres
que parfois on se reconnait
 
(chính trong tấm kính tha nhân
đôi khi người ta nhận biết mình)
 
o0o
 
Người Việt xưa thường có lối chơi chữ (lộng ngữ) với hình thức thơ hoặc câu đối mà ít dân tộc nào có được.
 
Chẳng hạn, câu đối được ra:
Con ruồi đậu mâm xôi đậu
Và câu đối đáp lại:
Cái kiến bò đĩa thịt bò
 
hay:
 
- Con cá đối nằm trên cối đá
- Trái cau tươi rụng giữa cươi tau
 
(cươi tau = tiếng Thừa Thiên - Huế, cươi tau = sân tao)
hoặc câu đối của anh em bà Đoàn thị Điểm và Đoàn Trác Luân, một người đang trang điểm, một người dạo chơi bên hồ dưới trăng:
 
- Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm
(Soi gương kẻ lông mày, một nét hóa thành hai nét)
 
- Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân
 
(Tới hồ ngắm trăng, một vầng (trăng) thấy ra hai vầng)
 
Đặc biệt là lối thơ đọc ngược xuôi (thuận nghịch độc) như bài
"Đền Ngọc Sơn":
 
Linh uy tiếng nổi thật là đây,
Nước chắn, hoa rào, một khóa mây.
Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng,
Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay.
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng
Khách vắng khi đưaxạ ngát bay.
Thành thị tiếng vang đồn cảnh thắng,
Rành rành nọ bút với nghiên này.
 
Đọc ngược:
 
Này nghiên với bút nọ rành rành,
Thắng cảnh đồn vang tiếng thị thành
Bay ngát xạ đưa khi vắng khách,
Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn canh.
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím,
Bóng lộn hồ soi nước biếc xanh.
Mây khóa một rào hoa chắn nước,
Đây là thật nổi tiếng uy linh.
(Vô Danh)
 
Và còn nhiều lối chơi chữ khác, thuộc loại kỳ xảo, như ô chữ quả trám, loại "Chức cẩm hồi văn" của Tàu, được sắp đặt lời văn đọc lộn vòng quanh, từ trái qua phải, từ trên xuống, từ dưới lên, từ ngoài vào trong, đọc theo lối nào cũng có nghĩa và được dệt từ trên gấm nên gọi là Chức cẩm hồi văn. Đây là bài văn của nàng Tô Huệ, vợ ông thứ sử Đậu Thao, đời nhà Tần. Vì chồng đi làm quan lâu ngày ở xa, nàng làm bài này, thêu chữ trên gấm dệt rồi dâng lên vua. Vua đọc xong cảm động cho chồng nàng trở về đoàn tụ.
 
Phương Tây thời nay, có Jacques Prévert cũng hay dùng lối chơi chữ (jeu de mots)\. Chẳng hạn ở bài "À quoi rêvais - tu ?" (Em đã ước mơ gỉ)
 
Vêtue puis revêtue
à quoi rêvais - tu ?
 
(Mặc áo quần rồi mặc lại
em đã ước mơ gì ?)
 
Chơi chữ: rêvais - tu = revêtue (hai tiếng Pháp đồng âm khác nghĩa).
 
Ở bài " Page d' écriture " (trang tập viết):
 
La porte- plume redevient oiseau
 
(Quản bút trở lại thành chim)
 
Trong tiếng Pháp, chữ "porte - plume (quản bút) có chữ "plume" với hai nghĩa mà dồng âm: ngòi bút và lông chim. Hay ở một bài khác " De vos jours" (Thời của các người), với lối chơi chữ khá rắc rối:
 
Concomitamment la muture concraite et la peinsique abstrète (Phát sinh đồng thời họa-nhạc trừu-thể và nhạc-họa cụ-tượng)
 
Chơi chữ (tiếng Pháp):
 
- muture = do ghép chữ giữa musique và peinture
 
- concraite = do ghép chữ giữa concrète và abstraite
 
- peinsique = do ghép chữ giữa peinture và musique
 
- abstrète = do ghép chữ giữa abstraite và concrète
 
Vậy: - muture concraite = nhạc-họa cụ thể-trừu tượng
- peinsique abstrète = họa-nhạc trừu tượng- cụ thể
 
o0o
 
Trong vườn thơ M ỹ, có loại thơ gọi là "poems for the Eye " (thơ cho thị giác), tương tự như loại thơ sắp chữ theo hình quả trám, hình thang của Việt Nam, hoặc loại "Chức Cẩm Hồi Văn" của Tàu. Chẳng hạn, các bài thơ được xếp chữ theo hình án thờ và thánh giá, hình cột trụ, hình kim tự tháp. Bài thơ của George Herbert (thế kỷ thứ 17) thì xếp chữ theo chiều dọc, xem như là loại "thơ ấn phẩm" (printed poetry).
 
Bài thơ "Calligrammes" (Thư Pháp) của Guillaume Apollinaire, sắp chữ theo hình cái cà vạt, tháp Eiffel, làn mưa rơi xiên\. Một bài khác của John Hollander (thế kỷ 20) có hình con chim. Nhà thơ Williaam Carlos Williams thì có bài thơ truyền đạt bước đi mạnh mẽ của người bồi (trực tầng ở khách sạn) xuống các bậc thang:
 
ta tuck a
ta tuck a
ta tuck a
ta tuck a
ta tuck a
 
(tuck = nếp gấp, ở đây hình dung các bậc thang)
 
Một số nhà thơ muốn viết tiếng Anh theo lối chữ Hán, một văn tự có tính chất hình tượng.
 
Aram Saroyan, có bài thơ với tựa đề "Crickets" (Những con dế), khởi đầu như sau:
 
Crickets
Crickets
Crickets
Crickets
 
Và tiếp tục xuống thêm đến 37 dòng. Khi đọc to lên thì âm thanh của bài thơ nghe giống như tiếng dế kêu. Có nhà thơ, Dorthi Charles (thế kỷ 20) làm bài "Concrete Cat" (Con mèo cụ thể), sắp chữ theo hình con mèo, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, có đủ các từ ear (tai), eye (mắt), mouth (mõm), whisker (râu ria), stripes (sọc vằn), tail (đuôi), paw (chân vuốt)\. Đặc biệt bên cạnh mèo có đĩa đồ ăn (dish), thùng rác (litter box) và con chuột (mouse). Và còn bao nhiêu loại thơ sắp chữ khác, không thể dẫn ra hết ở đây (vì liên hệ đến kỹ thuật in) của các nhà thơ thuộc phái "concrete poetry" (thi ca cụ thể). Chẳng hạn như Aram Saroyan, trình bày bài thơ hoàn toàn là một trang giấy trắng, ngoại trừ một chữ "oxygen" (dưỡng khí).
 
o0o
 
Thi ca Việt Nam hiện đại đi sau phương Tây một thế kỷ với trường thơ trữ tình lãng mạn.
 
Xuân Diệu, nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ tình mà Hoài Thanh (tác giả tập Thi Nhân Việt Nam) đã so sánh với Lamartine, nhà thơ Pháp, cả hai từng được tuổi trẻ hoan nghênh. Và một số các nhà thơ Việt vào thập niên 1930, chịu ảnh hưởng ít nhiều các nhà thơ phương Tây về thơ, cũng như về trường phái. Chẳng hạn, Bích Khê, Nguyễn xuân Sanh, đi theo Mallarmé, Valéry (Pháp), sáng tácnhững bài thơ tượng trưng với những cấu trúc ý tưởng cầu kỳ, bí hiểm, khó hiểu.
 
Vào thập niên 1960- 70, các nhà thơ ở miền Nam, một số làm thơ tình với ít nhiều tính chất lãng mạn như Nguyên Sa, nhưng đi sâu vào nội tâm hơn như Nhã Ca, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Thanh Tâm Tuyền ...
 
Riêng Nguyên Sa, có lẽ chịu ảnh hưởng nhiều của thơ phương tây, với lối hành văn gọi là "Simile", tức là một cách so sánh giữa hai sự vật không giống nhau (comparison between two unlike objects). Với các giới từ trung gian như: like, as, similar to ... Ví dụ câu thơ của Robert Burns:
 
O my love like a red, red rose
 
(Ôi người yêu tôi như một bông hồng đỏ, đỏ thắm)
 
Nguyên Sa viết:
 
Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển
 
Nguyên Sa còn chịu ảnh hưởng của Jacques Prévert khi làm các bài
thơ thuộc loại "liệt kê" (enumeration). Chẳng hạn bài "Paris at
night" (Paris về đêm) của J. Prévert:
 
Trois allumettes une à une allumées dans la nuit
La première pour voir ton visage tout entier
La seconde pour voir tes yeux
La dernière pour voir ta bouche
Et l' obscurité toute entière pour me rappeler tout cela
En te serrant dans mes bras
 
(Ba que diêm từng cây một đốt lên trong đêm
Cây đầu để nhìn toàn thể mặt em
Cây thứ hai để nhìn đôi mắt em
Cây cuối cùng để nhìn miệng em
Và bóng tối hoàn toàn để anh nhớ lại tất cả đó
Trong lúc ôm lấy em trong tay anh)
 
Bài "Năm ngón tay" của Nguyễn Sa:
 
Trên bàn tay có năm ngón
Có ngón dài, ngón ngắn
Có ngón chỉ đường đi
Có ngón tay đeo nhẫn
Ngón tay tô môi
Ngón tay đánh phấn
Ngón tay chải đầu
Ngón tay đếm tiền
Ngón tay lái xe
Ngón tay thử Coóc-sê
Ngón tay cài khuy áo
Em còn ngón tay nào
Để giữ lấy tay anh ?
 
Hai ông J. Prévert và Nguyên Sa dùng lối liệt kê xem ra có vẻ mới, nhưng thật ra người Việt xưa đã từng dùng lối này qua bài ca dao "Mười thương", rất phổ biến trong dân gian.
 
Hay bài ca dao khác, "Trăng":
 
Mồng một không trăng
Mồng hai không trăng
Mông ba câu liêm
Mồng bốn lưỡi liềm
Mồng năm liềm giật
Mồng sáu thật trăng
Mười rằm trăng náu
Mười sáu trăng treo ...
 
Và câu ca dao tiếp tục về trăng vào các ngày trong tháng, cho đến ngày cuối:
 
Ba mươi không trăng
 
o0o
 
Một đặc điểm của thi ca hiện đại là thơ tự do (free verse), tức là loại thơ không hạn chế số chữ của mỗi câu, không theo luật bằng trắc, vần điệu như thơ Đường hoặc thơ Việt xưa (lục bát, song thất lục bát, ca trù) nhưng vẫn có nhịp điệu riêng.
 
Jacques Prévert, Paul Éluard (Pháp), ẸE\. Cummings, Robert Frost (Mỹ) đều có làm thơ tự do.
 
Chẳng hạn, bài thơ " Tant de forêts..." của J. Prévert:
 
Tant de forêts arrachées à la terre
et massacrées
achevées
rotativées
Tant de forêts sacrifiées pour la pâte à papier
des milliards de journaux attirant annuellement
l' attention des lecteurs sur les dangers du
déboisement des bois et des forêts.
 
(Có nhiều rừng bật tung khỏi đất
và bị tàn sát
trọn vẹn
hồi chuyển
Có nhiều rừng hy sinh để làm bột giấy
Có hàng tỷ tờ báo hàng năm lôi cuốn người đọc
lưu tâm về hiểm họa
đẵn cây phá rừng)
 
Thơ tự do của J. Prévert phần nhiều có tính chất phóng khoáng về hình thức, tân kỳ về nội dung, đặc biệt là tính chất hài hước pha châm biếm (như bài "Có nhiều
rừng..." trên đây).
 
Ở Việt Nam, có thể nói các bài thơ tự do sớm xuất hiện là bài "Tình già" của Phan Khôi, "Tống biệt" của Tản Đà, "Màu thời gian" của Đoàn Phú Tứ. Tuy nhiên các bài thơ nầy còn vương vấn ít nhiều vần điệu của thơ luật.
 
Bài thơ "Gặp mùa thu", sáng tác khoảng năm 1947-48, của Nguyễn đình Thi, có nhiều tính chất tự do hơn:
 
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác heo may
Bụi phơi ngõ vắng
Thềm cũ lá rơi đầy
Ôi nắng dội chan hòa
Nao Nao trời biếc
Gió thổi hương đồng nội
Hương rừng chiến khu
Tháp Rùa lim dim nhìn nắng
Những cánh chim non
Trông vời nghìn nẻo
Mây trắng nổi tơi bời
Mấy đứa giết người
Hung hăng một buổi
Tháng tám về rồi đây
Hôm nay nghìn năm gió thổi
Trời muôn xưa
Đàn con hè phố
Ngày hẹn đến rồi
Các anh ngậm cười bãi núi ven sông
Hà Nội
Ơi núi rừng
 
Về sau, thơ tự do xuất hiện mỗi lúc một nhiều trên thi đàn thế giới và vì lối thơ này không hạn chế bởi âm vận, thi luật và do thiếu kỹ thuật cấu trúc nên dần dần trở nên kém giá trị nghệ
thuật.
 
Một phong trào ở Mỹ, muốn chấn hưng thi ca, lập nên trường phái "New Formalism" (Tân Hình Thức), sau khi có những nhận định về thơ tự do:
 
a/ Sự phá sản của thơ tự do
 
b/ Yếu tố chủ quan trong thơ (lập dị, tối nghĩa)
 
c/ Thơ tự do khó nhớ (vì thiếu vần điệu, câu thơ dài ngắn không đều, thiếu nhạc tính)
 
Các nhà thơ Tân Hình Thức gạn lọc từ thơ truyền thống và thơ tự do làm thành một hình thức mới để diễn đạt tư tưởng. Hình thức này tức là thơ có số chữ nhất định, có vần, có nhạc tính.
 
Thử đọc một đoạn thơ Tân Hình Thức:
 
I ' d hide beneath the table where the men
Played poker in the smoky shade. They bent
Their cards. Red Wine, cigars and pepperoni
It wasn't really whispers when Aunt Toni
Sat right down beside my uncle Joe - surprise
Is more like it - and stared into his eyes ...
(Rafael Campo - Aunt Toni ' s Heart)
 
(Tôi nấp dưới bàn nơi những người đàn ông.
Chơi bài tây trong bóng khói. Họ uốn cong
những lá bài của họ. Rượu vang đỏ, xì gà, thịt ướp gia vị
Thực ra không phải là những tiếng thì thầm khi dì Toni
Ngồi sát bên bác Joe tôi - lạ thay
Hơn thế ấy nữa - nhìn chòng chọc vào mắt ông ta)
(R. C - Tâm tình dì Toni)
 
Và một đoạn "thơ mới":
 
Sáng hôm nay hồn em như tủ áo
Ý trong veo là lượt xếp từng đôị
Áo đẹp chưa anh ! hoa thắm thêu đời,
Áo mơ ước anh bận giùm chiếc nhẹ
Vàng rạng cùng xanh hồng cười với tía,
Xin mời anh chọn hình sắc yêu đương
Hồn em đây đủ muôn ánh nghê thường,
Anh hãy bận hồn em màu sáng chói,
Anh có biết hôm nay là ngày hội
Của lòng ta\. Em trần thiết, trang hoàng
Anh đã về; em nghe dưới chân vang
Hoa lá nở với chuông rền giọng thắm ...
(Huy Cận - Tình tự)
 
Như vậy, thơ Tân Hình thức chẳng khác gì "thơ mới" của Việt Nam, tức là loại thơ phỏng theo cấu trúc hình thức của thơ Pháp, với câu có số chữ nhất định và các vần quy định\. Có điều thơ Tân Hình thức được nới rộng về quy luật âm vận, tức là có hai loại vần: vần chính (ryhme) là các vần có nguyên âm hoặc phụ âm đọc giống nhau như: men / bent, pepperoni / Toni, eyes / surprise (ở bài thơ trên) và vần phụ (half rhyme) như: heart / doubt, stopped / swept ... chỉ có phụ âm cuối đọc giống nhau.
 
Hơn nữa, phái Tân Hình thức chủ trương đưa văn xuôi vào thơ (dung hòa thơ truyền thống và thơ tự do) và chú trọng nhạc tính trong thơ. Về điều đưa văn xuôi vào thơ thì cách ngắt câu, nối đoạn, từ câu trên xuống câu dưới (enjambment), tức là phần nào có tính cách văn xuôi, như trong bài "Aunt Toni 's Heart ":
 
I ' d hide beneath the table where the men
played poker in the smoky shade. They bent
their cards.
.................
It wasn' t really whispers when Aunt Toni
sat right down beside my uncle Joe
 
hay ở bài "Tình tự":
 
Anh có biết hôm nay là ngày hội
của lòng ta. Em trần thiết trang hoàng.
Anh đã về; em nghe dưới chân vang
hoa lá nở với chuông rền giọng thắm
 
Tuy nhiên, thơ tự do đã có từ trước, dù chưa có quy luật nào đặt ra để tạo nhạc tính trong thơ, cũng có nhiều bài có giá trị, qua âm hưởng kỳ diệu của những chữ, với kỹ thuật cấu trúc cao. Nói cho cùng, nhạc tính trong thơ cũng do sự phối hợp khéo léo giữa các âm hưởng của chữ (đặc biệt là Việt ngữ) do tài năng sáng tạo của người làm thơ\. Mặt khác, thơ không phải là nhạc để nhất thiết cần đưa nhịp (cadence) vào thơ để có nhạc tính, nhất là đối với thơ tự do. Loại thơ này không bị trói buộc vào một quy luật nào, nếu đọc lên có âm điệu (rhythm) nhịp nhàng, uyển chuyển, khác với một đoạn văn xuôi khô khốc, thì cũng đủ gây cảm xúc trong lòng người. Như vậy thì thơ tự do mới không mất đi ý nghĩa của nó.
 
Thật ra, thì các nhà thơ Mỹ, chủ xướng thơ Tân Hình Thức, sau một thời gian đi theo các trường phái lập dị như Tượng Trưng, Dada, Siêu thực, Tương lai ... có tính chất tối tăm, bí hiểm, muốn trở về với nguồn thơ trong sáng, thích hợp với bản chất tự nhiên và cái cảm giác chân thực của con người.
 
Nhà văn Rudyard Kipling từng nói ; "East is East, and West is West, and never the twain shall meet" (Đông là Đông, Tây là Tây, đôi bên không bao giờ gặp nhau).
 
Ở đây, trong lĩnh vực thơ, có lẽ câu nói của R. Kipling không hoàn toàn là một câu có tính chất khẳng định.
 
Linh Thảo
Paris