NGUYỄN THANH-TRÚC,
Tiếng hót lảnh lót của con chim chìa vôi giữa rặng tre làng.
Lương Thư Trung
Thật tình cờ, tôi có dịp về ngang một cánh đồng vào tháng Hai, mùa lúa mới chín vàng đồng. Rồi tôi băng qua một con rạch nhỏ với bờ rạch không cao nhưng phủ đầy cỏ song chằn, cỏ mồm mỡ đang vào mùa nắng gắt. Những đọt cỏ non xanh mướt chút sương chiều. Mấy con diều giấy đứa trẻ mục đồng nào đang chạy chơi ngoài sân đập lúa sớm. Chút khói lam chiều trôi chậm nơi chòi tranh núp mình dưới bóng tàng cây ô môi. Và cả mùi rơm rạ của mùa lúa mới thơm lừng dậy đất. Trên con rạch nhỏ trôi xuôi về Sa Đét, những khóm lục bình đang thời trổ bông tím cả bờ kinh. Lác đác trên dòng nước đục vài nhánh lục bình khác lại lênh đênh trôi theo dòng nước mát... Và cả rặng tre làng nữa, tiếng lá tre xào xạc hướng gió nồm từ Rạch Giá đang vào mùa... Và tôi lại được thấy em trong đó, món “Qùa Quê”:
“Gửi anh nắm cỏ ven đê
Chút hương cau trắng, đê mê sáo diều.
Gửi anh chút khói lam chiều,
Hương rơm ngai ngái chiếc lều bên sông.
Lục bình hoa tím giữa dòng,
Khóm tre xào xạc, gửi lòng gái quê.
Xứ người vật chất phủ phê,
Xa hoa, phù phiếm, nhớ về em chăng?
Quê nghèo những tối sáng trăng,
Bên thềm chải tóc nhớ chàng miên man...”“Qùa Quê” hay “món quà nhà quê” của một người bạn trẻ làm thơ không mơ ước làm thi sĩ, Nguyễn Thanh -Trúc, đã chở nỗi lòng của một cô gái quê gởi đến khắp cùng. Những người quen biết hay chưa quen biết; những chú bác hay bạn bè cùng trang lứa, mỗi mỗi người đọc là cái cơ duyên để một trái tim tràn đầy chất nhà quê được tỏ bày tâm sự.
Ở Nguyễn Thanh- Trúc là một tuổi thơ hồn nhiên nhưng biết nhớ lá me già thay lá lúc mưa về, biết thẹn thùng hờn dỗi khi một nụ hôn bất chợt đậu lại trên gương mặt thơ ngây :
“Thu năm đó vừa về ngang trước ngỏ
Cội me già chầm chậm rãi lá bay
Có đôi lứa hồn nhiên vui tuổi nhỏ
Gót chân trần, kỷ niệm phủ đầy tayThu vui bước qua con đê dạo nọ
Con bé hờn, điên điển chát bờ môi
Gió đong đưa, môi mím giận nụ hôn
Thằng bé ngạo “giận làm chi thêm tội”.(Điệp khúc mùa thu)
Để rồi, nay khôn lớn lại biết đề thơ trên chiếc lá :
“Thu nay đến vẫn chân trần trên cát
Lang thang tìm chiếc lá viết tình thơ
Gió vi vu dạo khúc nhạc mong chờ
Cho lời hát cao dần quanh nỗi nhớ.”(Điệp khúc mùa thu)
Đọc những vần thơ này, bỗng tôi lại nhớ bài thơ xưa của Huỳnh Minh, một học giả chuyên biên khảo về các tỉnh vùng Cửu Long, với tựa bài thơ “Đêm Thu Nhớ Bạn”, dù thật khác xa nhau vì một trẻ một già và dĩ nhiên tâm sự cũng đã khác nhau, duy chỉ có chung nhau “nỗi nhớ”:
“Nhìn đây trường giang luống ngậm ngùi,
Đêm thu thơ thẩn thả thuyền chơi.
Trời treo màn rách sương rơi lụy,
Nước cõng trăng leo sóng bật cười.
Văng vẳng tù và cao thấp giọng,
Véo von Đỗ Vũ mỏi mòn hơi.
Ngược dòng nên phải neo thuyền lại,
Để đợi chờ ai nhắn những lời.”(1)Nhưng đâu chỉ có “điệp khúc mùa thu” là “nỗi nhớ” đang quấn “chân trần trên cát” của cô gái quê có cái tên Thanh-Trúc. Tiếng thu nghe như bão ở “vườn thu” còn là tiếng dế mèn lạc lõng như một lời ca buồn thảm tựa hồ vương vấn chút tình cô gái quê đang đợi chờ khắc khoải một cuộc tình vừa mới trôi đi :
“Mùa thu tím về bay trên cánh gió
Cuốn tình mình lẩn trốn ở trong nhau
Để nơi đây vương vấn bóng em chờ
Nghe hiu hắt giữa chơi vơi nương náu.Chiều xuống chậm hoàng hôn lên vội vã
Đêm tràn về ngõ vắng bước chân mưa
Sương trắng đục vây quanh thân tượng đá
Tiếng dế mèn lạc lõng điệu nhạc xưa.”(Bão Thu)
Và rồi Thanh Trúc ấy có những ngày bé thơ với bài học vỡ lòng bằng những món “nợ roi” vừa hồn nhiên, vừa tinh nghịch thật dễ thương mà lòng hiếu đạo dạt dào :
“Ngày còn bé con ham chơi quá đỗi
Ở trong nhà một bữa cũng không yên
Chảng đi chơi thì lại gây chuyện phiền
Phá dàn máy, mổ diều gà thử nghiệm.Ba giận lắm đem tội con ra đếm
Dạy bảo hoài mà tật vẫn thế thôi
Con sợ Ba hay chỉ sợ cây roi ?
Mắt lắm lét, con sợ cây roi lắm !Những ngu dại, thật thà hồi năm nẳm
Khiến cho Ba đang giận cũng tức cười
Thôi không cần cúi nữa, nợ ba roi
Ba yêu kính, ba roi con vẫn nợ.”(Bài học vỡ lòng)
Khi em lớn thêm chút nữa, như có lần phải xa mẹ ở chốn biệt mù mà lòng không thôi nhớ Mẹ đang mòn mỏi trông chờ :
“Con xa Mẹ khi tuổi còn quá trẻ
Nào biết gì đời cạm bẫy giăng giăng
Nhìn tương lai lo cuộc sống không thành
Tay định mệnh bứt đời con khỏi Mẹ.........
Đêm Trung Thu trăng tròn, trời quạnh quẽ
Gió viễn du cho ta gởi mấy lời
Nhắn gửi về quê Mẹ chốn xa xôi
Lời kính nguyện con yêu mong Mẹ khoẻ.”(Lá thư trại tỵ nạn)
Đứa bé nhà quê nhưng không quê ấy, Nguyễn Thanh Trúc, thật thông minh, dí dỏm pha chút hóm hỉnh mà dễ thương đã biết nhận ra trong sợi tóc bạc của Mẹ hiền là nỗi nhọc nhằn cùng lòng nhân từ để làm chất liệu nuôi đời con khôn lớn :
“Giờ hóa học, cô giáo cho phân chất
Vật thí nghiệm tùy con chọn lựa thôi
Con hiếu kỳ chọn đề tài “sợi tóc”
Tóc bạc màu của Mẹ mới vừa rơi.Chẻ sợi tóc con đặt lên màn kính
Có tháng ngày vất vả kiếm gạo cơm
Dãi nắng sớm mưa chiều đến ngã bệnh
Con trưởng thành, khổ mấy Mẹ cũng cam.Nhỏ một giọt dung dịch màu đen đậm
Con thấy chừng giọt nước mắt Mẹ đông
Giọt tủi hờn nếu con đem chắt cạn
Đọng lại là những giọt của tình thương.Máy ly tâm lọc ra lòng cao thượng
Sấy thật khô ló dạng bột nhân từ
Cho vào lọ chưng cất thành chất lỏng
Hoá nụ cười muốn đổi cả ngàn thu...”(Sợi tóc bạc)
Bài thơ vừa lạ vừa cảm động làm người đọc nào mà không mềm lòng trước một đứa con hiếu đạo. Lòng hiếu đạo của cô gái quê đó chính là cái nếp văn hóa nhà quê có từ trong ruộng đồng lầy lội qua bao mùa mưa nắng chắt chiu rồi. Sợ ngọn roi của Cha. Thương tấm lòng của Mẹ. Cuộc đời này chỉ giản dị chừng ấy mà có nhiều lúc đâu phải dễ bắt gặp, dễ tìm.
Thơ Nguyễn Thanh Trúc, người yêu thơ đôi lúc nghe vang vọng một âm điệu là lạ. Nó như một chút gì mới mẻ mà gần gũi; một chút gì chơn chất thật thà mà thanh thoát cao xa; một chút gì hồn nhiên mà tha thiết dào dạt cả cõi lòng... Người trẻ viết văn làm thơ ngày nay nhiều thật là nhiều. Và mỗi người mỗi cách diễn đạt nỗi lòng cùng cảm hứng nhưng Nguyễn Thanh Trúc đối với tôi có chút gì như gần gũi. Phải chăng vì mình cũng nhà quê như em, cũng có những lúc đêm trăng nhớ về mùa gặt lúa vần công, cũng có những buổi chiều ngồi nghe tiếng chim bìm bịp đang gọi con nước lớn chảy về vào con rạch cạn, cũng có những “góc trời quê hương” để nhớ. Nhiều đêm tôi nhớ lu mái vú đầy nước mưa; tôi nhớ hàng cau ngoài bờ mương rụng trắng nhừng cánh hoa trên nền rêu xanh mọc dày mặt đất; tôi nhớ chiếc xuồng nhỏ với chiếc dầm bơi nhẹ trên mặt nước mùa nước nổi bên đám điên điển nở đầy những bông hoa vàng rực một màu vàng. Và tôi nhớ nhiều lắm một nơi chốn nhà quê như vậy. Trong thơ Nguyễn Thanh Trúc, dù em còn rất nhỏ nhưng em cũng không thể quên những góc nhỏ của mảnh vườn nhà:
”Cây khế nhà ta lấm tấm hoa
Rụng hồng sân nhỏ phía sau nhà
Chích chòe vui hót trong vòm lá
Đàn kiến vàng bận bịu vô ra.Nhà ta có lu nước mưa
Dẫn nước bằng máng xối thân dừa
Ngụm nước ngọt lòng ta một thuở
Ngây ngất tình quê nói sao vừa.Mẹ già giúp gội tóc cho em
Gáo dừa sóng nước tóc mượt thêm
Hương bồ kết quyện từng sợi mỏng
Suối tình tay Mẹ ngát dịu êm.”(Thương hoài góc trời quê)
Nước mưa mát hay lòng quê hương tươi mát qua ngòi bút của Thanh -Trúc cũng là ý tứ trong mấy câu thơ của Kiên Giang một thuở nhưng có chút gì khang khác ở cái nét dịu dàng của cô gái trẻ nhớ quê thương mẹ đậm đà hơn :
“Uống nước trời mưa anh những tưởng
Uống mùi hương tóc gái thơ ngây
Nước trong veo quá, không men rượu
Mới uống lòng đà ngây ngất say.”(Hương nước mưa)
Viết về trăng trên đồng, Thanh-Trúc đã vẻ một đêm trăng vào mùa gặt thật tình tứ :
“Trăng vàng treo ở ngọn tre
Gái trai làng đã trên đê sẵn sàng
Đêm rằm gặt lúa vần công
Ánh trang loang loáng trên đồng, trên vai...”(Gặt lúa đêm trăng)
Nhưng trong đêm trăng sáng vằng vặc ấy, ở cô gái quê nhỏ nhắn xinh xinh cũng để hồn mình trôi theo lòng rạo rực tuổi dậy thì. Và trong những câu hò đối đáp bay bổng giữa cánh đồng như mời gọi một lần trầu cau sum vầy duyên nợ trăm năm:
“Trúng mùa vụ lúa Đông Xuân
Đố em mấy hạt một thân giữa đồng
Em mà đáp đúng rõ ràng
Anh về xin Mẹ....
... hỏi nàng cho anh....Liếp trầu vàng, quả cau xanh
Hỏi anh mấy lá trầu dành để mâm?
Cau thời mấy quả vỏ vân?
Đáp rồi em nói ....... chuyện thân lúa đồng....
Lớn lên gái phải lấy chồng
Trầu cau em thách, anh gồng mình theo
Tuy rằng anh vốn phận nghèoGặt xong anh đủ ....
..... tiền chèo cưới em....”Và đây mới là cái duyên của câu hò, vừa lãng mạn, vừa kín đáo rất là gái quê hiền thục, có khác gì ca dao miền quê nước ngọt bốn mùa:
“Thẹn thùng má ửng trong đêm
May mà giấu kịp sau rèm tóc mai
Đường về lúa gánh trên vai
Nụ cười em gửi anh hoài khắc tâm
Cũng nhờ gặt lúa đêm rằm
Tim anh có dịp thì thầm... thương ai.”(Gặt lúa đêm trăng)
Đọc thơ Thanh Trúc, một lần nữa tôi lại nhớ Kiên Giang, có những vần thơ viết về đêm trăng cũng cùng cảm xúc, và dĩ nhiên cái đẹp của vầng trăng không của riêng ai, nhưng mỗi nét thơ có cái vẻ chẳng cùng nhau :
“Nhớ quê có những đêm trăng sáng
Sáng cả vườn xanh, cả ruộng vàng
Con trẻ quây quần theo gót mẹ
Lên chùa cúng Phật để dâng hương.(Tình quê, Tình nước)
Trở lại các câu hò đối đáp, Nguyễn Thanh Trúc còn nhiều câu hò như thế. Và đặc biệt những câu lục bát cách tân em đã làm, nếu đem chép lại theo thể thơ có từ trước, có lẽ cũng không thiếu những bông hoa đồng quê bay tỏa bốn mùa :
“hồn
chơi vơi giữa lưng trờinắng hanh nung nóng
gió thời đung đưave sầu
tấu khúc nhạc trưabóng ôm lấy bóng
chồm
xua nỗi sầulá rơi trong gió
nghe đauchăng tình
nghiệt ngã đời nhau muôn phầnbút cùi,
tay viết ngại ngầnbẻ đôi con chữ
gieo vần
hoạ thơừ,
thì ta viết vu vơ
dăm câu lục bát
thẩn thờ
sầu thươngra câu vấn
viết câu vươnghồn đêm qua
ngọ ngoậy
dường chẳng ngoncâu thơ ngọt
viết ru hồnmặn mà, tha thiết
hoàng hôn buông dầnkhép hờ mi
đôi mắt trầnđưa vào mộng
nhoẻn nụ ngoanmơ hiền...”
(Ru hồn vấn vương)
Đặc biệt thưởng ngoạn bài thơ này, trong tâm hồn tôi nghe có chút gì bâng khuâng trong lòng về một phận đời bèo giạt mà thông cảm với người nghệ sĩ trẻ... Tôi còn nhớ một bản nhạc không biết của nhạc sĩ nào “cắt nửa vầng trăng làm con thuyền nhỏ.... bẻ nửa câu thơ làm đôi mái chèo...” Và ở đây tôi lại bắt gặïp Thanh- Trúc “bẻ đôi con chữ gieo vần họa thơ”, quả đã là nghệ sĩ rồi. Rồi con đò nhỏ, mái chèo nhỏ xuôi dòng kia hay câu thơ của Thanh- Trúc nào ai biết được bến bờ nào để những hồn thơ, hồn nhạc gặp nhau như mùa gặt lúa dưới đêm trăng trên ruộng trên đồng.
Thơ Nguyễn Thanh- Trúc có lẽ tôi không có cơ may được đọc nhiều, nhưng với chừng ấy bài mà tôi may mắn được Trường Đinh gởi cho (2), tôi thấy tôi trong đó. Ở thơ Nguyễn Thanh-Trúc không sắc sảo tài tình, không trau chuốt bóng bẩy, không văn chương thời thượng nhưng nó chứa đựng một tấm chân quê dào dạt, một chút lãng mạn dễ thương, một chút hồn nhiên êm đềm và trên hết ở đó người bạn trẻ đã nói cho bạn bè cùng trang lứa về đạo hiếu mà đứa con nào cũng cần mang theo trong lòng suốt đời. Cái đạo hiếu là nếp nhà không thể thiếu dù em là cô gái quê mùa hay bạn là người học thức chốn thị thành.
Với tôi, Nguyễn Thanh- Trúc là tiếng hót lảnh lót của loài chim chìa vôi giữa rặng tre làng. Tiếng hót ấy sẽ mang đến cho đời một chút hương nội gió đồng, một chút hoa cau hoa bưởi, một chút nắng ấm quê nhà, một chút trăng sáng mùa trăng trên đồng và cả những ngụm nước mưa ngọt lịm làm dịu cơn khát nước trưa hè... Còn nhiều lắm những tình quê tha thiết biết bao nhiêu !!!
Tôi mong tiếng chim chìa vôi ấy còn cất cao tiếng hót lảnh lót buổi sớm mai như mọi ngày để tôi biết được rằng nơi nào có người nhà quê như em, như tôi đều nghe được tiếng hót quen thân của một loài chim mang niềm vui đến mọi người ở buổi bình minh an bình, hạnh phúc...
Mong lắm thay !!!
Phụ chú:
(1)Trích trong Bạc Liêu Xưa và Nay của Huỳnh Minh.
(2) Trích trong thi tập nhiều tác giả “Một Thoáng Kỷ Niệm” do Suối Nguồn phát hành.Lương Thư Trung
Boston, ngày 09 tháng 3 năm 2002