SỐ PHẬN

Nguyễn Thanh Trúc

 

1.
Già từng tuổi này, hơn nửa đời người, đầu hai thứ tóc mà ông còn phải ôm sách vở đến trường. Chuyện hiếm có ở xứ mình. Chứ ở cái xứ khoa học tân tiến này thì chẳng có gì là lạ cả. Khối kẻ tuổi xế chiều như ông vẫn còn đi học. Người ta đi học để lấy thêm bằng cấp thứ hai, thứ ba. Còn ông thì đi học để lấy lại cái mảnh bằng mà ông đã từng đạt được mấy chục năm về trước ở bên nhà. Và cũng là một cách hữu ích để đốt thời gian trống trải, quạnh vắng sau giờ làm.

Số là sau biến cố lịch sử của Sài Gòn, ông cùng chung số phận với bao quân nhân khác: Đi cải tạo. Kể cũng lạ, cuộc đời ông hầu như cứ bị số phận đưa đẩy. Số phận đưa ông vào quân ngũ. Ông lớn lên từ nơi đó. Số phận đẩy ông vào trại cải tạo. Ông cằn cỗi đi từ chốn đó. Rồi số phận chắp đôi cánh sắt cho ông sang xứ cờ hoa theo diện cựu quân nhân. Ông làm lại cuộc đời từ đây. Hầu như đời ông cứ mỗi lần sang trang là ông phải làm lại từ đầu. Bắt đầu bằng con số không trên một mảnh giấy trắng to tướng. Nó to như mảnh giấy ông đang cầm trên tay, mảnh giấy ghi tên các quyển sách ông cần mua cho khóa học này. Ông đang lui cui tìm tựa sách thì có người ngã vào lưng ông như trời giáng. Xoa xoa cái lưng già nua của mình, ông quay lại nhìn thì thấy một cô nhỏ người Á Đông. Cô nhỏ xin lỗi ông rối rít:

- I am very sorry, sir. Are you okay?

- Are you Vietnamese? I am.

- Dạ cháu cũng là người Việt. Cháu xin lỗi bác. Bác có đau lắm không? Quyển sách cháu cần, nó nằm trên cao quá. Cháu với hoài không tới. Cháu xin lỗi.

Ông nhìn cô nhỏ, nhìn đống sách ngổn ngang, rồi cười xòa:

- Bác không sao. Cháu cần quyển nào? Bác lấy dùm cho.

Cô nhỏ cười thật tươi khi ông lấy giùm quyển sách trên cao. Hai bác cháu thu dọn sách vở trên sàn xong rồi ai đi đường nấy. Trong lúc đứng đợi trả tiền sách, ông lục tung ngăn ký ức tìm xem có gặp cô nhỏ này lần nào chưa. Nụ cười và ánh mắt của cô nhỏ nhìn quen lắm. Mặc cho tất cả các ngăn ký ức bị xáo tung, ông tuyệt nhiên không nhớ được đã gặp nụ cười thiên thần, và ánh mắt như sao đó khi nào.

2.
Ông ngồi ở trạm xe buýt ngó lá vàng lơ lửng trong cảnh chạng vạng của một chiều giữa Thu. Hôm nay ông tan trường sớm. Ông chỉ đến trường làm bài kiểm tra rồi về. Dưng không ông thèm một hơi thuốc. Khi còn ở bên nhà, điếu thuốc là bạn tri kỷ với ông. Từ ngày sang đây, nhà cửa bít bùng, hút thuốc phải ra đứng ngoài hiên. Ông bỏ quách cái thói quen cố hữu của mình. Ông đang mơ màng với khói thuốc tưởng tượng, cô nhỏ hôm nọ bước vào trạm xe buýt, ngồi xuống cạnh ông.

- Chào bác.

- Ô, cháu đó hả. Học hành ra sao? Làm bài kiểm tra có khá không?

- Dạ cháu làm bài cũng khá. Cháu còn một cái midterm ngày mai nữa. Bác có khoẻ không?

- Bác thì xong hết rồi. Già cả rồi, cũng sống qua ngày thôi cháu. Bác đón xe buýt ở đây mỗi đêm mà có gặp cháu bao giờ.

- Dạ thường ngày cháu về khoảng 7 giờ tối.

- À, bác thì đến 9 giờ mới xong lớp. Bác quên bữa nay mình ra sớm. Mà cháu học ngành gì vậy?

- Dạ cháu học Computer Science. Còn bác đang học gì vậy?

- Mèn ơi, con gái mà cũng học ngành này hả? Bây cũng lì đòn dữ há. Bác học để lấy lại cái bằng hồi xưa thôi. Đi làm về, ở trong nhà hoài quẩn trí lắm nên bác đi học cho vui.

- Cháu phục những người như bác ghê. Đi làm về mệt mà bác còn theo học được.

- Cháu tên gì vậy?

- Dạ tên Mỹ của cháu là Vivian. Nhưng tên đó chỉ dùng trong trường thôi. Ở nhà, má gọi cháu là Bất Hối.

- Bất Hối?! Cái tên lạ quá! Sao lại là Bất Hối? Chắc phải có nguyên do. Xin lỗi, bác đã tò mò.

- Má nói, má đặt cho cháu cái tên Bất Hối là vì dù ba cháu đã đành lòng ra đi, đành lòng bỏ hai má con cháu bơ vơ, nhưng má không trách ba; má không ân hận gì về mối tình của hai người; má không hối hận khi có cháu.

- Tội nghiệp! Má cháu là người phụ nữ đầy nghị lực, dám nghĩ, dám làm.

- Hình như bác đang ở một mình thì phải?

- Ừ, vợ con của bác đã bỏ bác đi từ mười mấy năm nay. Con trai của bác chắc chừng trạc tuổi cháu thôi.

Xe buýt đến. Ngẫu nhiên, ông và Bất Hối cùng chờ chuyến xe buýt số 19. Còn một điều ngẫu nhiên nữa là nhà của Bất Hối cách nhà ông chừng 15 phút đi xe buýt. Không hiểu vì sao, dưng không ông thấy có rất nhiều cảm tình với cô nhỏ tên Bất Hối này. Có một động lực vô hình nào đó cứ thúc giục ông muốn tìm hiểu về Bất Hối. Cái tên lạ lùng? Nụ cười hồn nhiên? Hay ánh mắt thật quen? Ông cũng chẳng biết nữa. Ông chỉ biết tự nhiên lại muốn đón xe buýt trưa thứ Bảy đến chỗ Bất Hối xuống xe hôm đó. Ông đi thật chậm quanh góc phố một vòng rồi lại đón xe buýt về nhà.

3.
Ông mới tậu được một chiếc xe. Chỉ là chiếc xe cũ thôi, nhưng nó cũng còn khá lắm. Công khó ông dành dụm cả năm nay. Có nó rồi, ông đỡ phải mất thời gian đón xe buýt đi làm, đi học. Cái cảnh đón xe buýt giữa trời Đông lạnh giá thật chẳng sung sướng gì. Và ông cũng có thể đi chợ Việt cuối tuần. Chợ xa nhà quá, ông lười đón xe buýt nên dạo trước đành ăn đồ Mỹ cho xong. Bây giờ ông có thể lái xe đi mua ít đồ dỗ ngọt cái lưỡi, cái mũi. Hương vị nước mắm của dân Việt mình thiệt độc đáo. Lâu ngày không ăn, ông thèm như tên hút thuốc phiện lên cơn ghiền. Ông thủng thỉnh xách cái giỏ đi dọc theo dãy hàng đồ khô. Ông bước thật chậm nhìn những chai nước mắm, nước tương, ... Cuối dãy, ông chợt thấy dáng quen quen của Bất Hối. Ông bước vội tới:

- Bất Hối! Chào cháu. Khoẻ không?

- Dạ thưa bác. Cám ơn bác, cháu vẫn khoẻ. Bác vẫn khoẻ luôn?

Và quay sang người phụ nữ bên cạnh, Bất Hối liếng thoáng:

- Đây là má cháu. Má ơi, bác này học cùng trường với con.

Người phụ nữ ngước lên nhìn ông. Ông vỡ lẽ ra ngay vì sao nụ cười và ánh mắt của Bất Hối nhìn quá quen. Bất Hối có nụ cười và ánh mắt của mẹ mình, Thảo, người vợ chưa cưới của ông, mối tình đầu của ông.

Dạo đó ông còn rất trẻ. Ông, chàng thanh niên trường Bách Khoa, hay ngồi một góc trong thư viện học bài. Thảo, cô sinh viên Văn Khoa, cũng chiếm một góc riêng trong thư viện để gạo bài. Vô tình, chỗ Thảo ngồi cạnh cửa sổ lại ngay trước mặt ông. Ngày qua ngày, bóng dáng Thảo như không thể thiếu trong bức tranh mỗi khi ông nhìn về hướng cửa sổ của thư viện. Một hôm ông quyết định vẽ thật sự bức tranh thiếu nữ đó trong lòng mình, cho riêng mình. Hai người quen nhau từ đó. Ông thật hạnh phúc vì có được Thảo. Và tình yêu của Thảo cũng lên ngôi bên ông. Họ như chim liền cánh, cây liền cành. Cha mẹ của Thảo không phản đối mối lương duyên này khi ông thưa chuyện với hai người. Mẹ của ông thì lại một mực ngăn cản việc ông muốn cưới Thảo làm vợ. Người con dâu mà bà muốn là ái nữ của ông cảnh sát trưởng đô thành. Mẹ ông ngã bệnh nặng. Trước khi qua đời bà bắt buộc ông phải cưới Ngọc. Ông đành rời Thảo về làm vui lòng mẹ, làm tròn ước nguyện cuối của mẹ, làm rể ông cảnh sát trưởng đô thành. Thảo biệt tăm luôn từ đó. Ông có đến tìm gia đình Thảo nhưng không ai biết tin tức gì.

Ông còn đang há hốc mồm. Và bà Thảo đang trợn trừng mắt nhìn ông. Bất Hối thức tỉnh hai người:

- Má cháu định nấu bún riêu ngày mai. Ngày mai mời bác lại nhà cháu chơi nhé. Được không má? Má cháu nấu bún riêu ngon lắm đó.

- Cháu nó không nhắc... tôi cũng quên mất. Mời anh... mời ông ngày mai đến nhà chơi dùng bữa trưa với mẹ con tôi.

Bất Hối nhanh nhảu viết địa chỉ nhà cô vô mảnh giấy trắng nhỏ rồi dúi vào tay ông. Bà Thảo bần thần nắm tay Bất Hối đi đến quày trả tiền. Bàn tay bà lạnh ngắt. Trước khi bước đi, qua một cái chớp mắt thật nhẹ, bà Thảo còn kịp nhìn thấy ngón tay áp út không đeo nhẫn của ông.

Hai mẹ con bà Thảo đi rồi mà ông vẫn còn đứng giữa chợ như bị trời trồng. Tim ông vẫn đánh loạn xạ lên. Mở địa chỉ của Bất Hối ra xem, ông mường tượng ngay đến dãy phố mà ông đã ghé qua hôm nào. Ông xếp mảnh giấy nhỏ của Bất Hối bỏ vào túi thật cẩn thận. Đột nhiên ông mỉm cười. Nụ cười chưa kịp tròn trên môi ông đã vội tắt. Ông thấy giận mình hết sức. Tại sao lúc nãy ông lại câm như hến, không nói được một câu cho ra hồn. Ông muốn hỏi thăm sức khoẻ Thảo, muốn biết về cha mẹ Thảo, muốn biết bao lâu nay Thảo sống như thế nào, muốn biết Thảo có còn giận ông lắm không, ... muốn nói nhiều điều lắm mà chẳng nói nên lời. Ánh mắt thảng thốt, đau xót của Thảo đã hớp hồn ông.

4.
Buổi tối ăn cơm xong, ông tự pha cho mình một bình trà thật đậm. Ông tắt hết đèn trong nhà, ngồi nhâm nhi ly trà bên cửa sổ. Chút ánh sáng vàng vọt của ánh đèn đường xuyên qua cửa sổ, soi lên mặt bàn. Thời gian cứ chầm chậm trôi qua. Tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ trên bàn đã đưa dẫn ông trở về miền quá khứ. Nơi đó có Thảo dịu dàng bên ông. Có những lời ước hẹn của đôi tình nhân trẻ. Có nụ hôn nồng nàn miên man không dứt. Có giọt nước mắt đọng trên gò má Thảo. Có Ngọc rất đài các trong chiếc áo dài cưới. Có nụ cười hài lòng của mẹ ông. Có đêm hợp cẩn ngồi uống rượu chờ trời sáng. Có nắm đất ẩm nơi huyệt mộ của mẹ ông. Có tiếng đứa con trai khóc chào đời. Có những đêm Ngọc không về nhà. Có tiếng quát tháo. Có cảnh đồ đạc trong nhà bị đập vỡ. Có ông ngồi gục đầu trên chiếc ghế tuyệt vọng, bất lực vì không tìm được Ngọc và bé An.

Hình như đã khuya lắm rồi. Ông vẫn còn ngồi đó bất động trong bóng đêm. Bình trà đã gần cạn, chỉ còn tí xác trà nguội ngắt lắng đáy bình. Chiếc đồng hồ để bàn vẫn tích tắc, tích tắc thật đều. Những ngón tay của ông bắt đầu cựa quậy, gõ nhẹ lên ly trà. Ông nghiêng đầu ngắm nhìn ngôi sao nhỏ nhấp nháy trên nền trời đêm về sáng. Ông ngẫm nghĩ, liệu Thảo có thông cảm và tha thứ lỗi lầm ngày xưa của ông không. Giá mà ông có thể quay ngược được bánh xe thời gian. Ông bằng lòng đánh đổi cả đời mình để được sống lại những khoảnh khắc của thời xa xưa đó. Và nếu có thể sống lại những ngày trong quá khứ, nhất định ông sẽ không bao giờ phạm lỗi lầm khi xưa lần nữa. Nhưng ông đang thở không khí hiện tại, đang sống những ngày của hiện tại. Ông sẽ gặp lại Thảo lát nữa đây. Ông thở dài, chậm rãi đóng chiếc màn cửa sổ. Căn phòng đã tối, giờ lại càng thêm tố.

5.
Ra khỏi chợ, bà Thảo im lặng lái xe về nhà. Trong đầu bà bao nhiêu câu hỏi dồn đến. Bất Hối nhìn ra được điều khác thường nơi mẹ mình:

- Má không khỏe hả?

- À không gì. Má đâu có sao. Con biết bác khi nãy từ bao giờ?

- Con biết bác ấy chỉ mới khoá học vừa rồi thôi hà. Bác ấy nói chuyện thấy cũng tội nghiệp.

Lo cơm nước cho Bất Hối xong rồi, bà Thảo lui về phòng. Thật nhẹ nhàng, cẩn thận, bà lấy trong ngăn tủ ra quyển nhật ký dày bìa cứng màu xanh dương. Quyển sách đã sờn nhưng chứa đựng những tâm tư của bà hơn 18 năm qua. Bà chậm rãi lật từng trang...

Ngày... tháng... năm...
...
Em không trách anh đâu. Anh đã làm những gì anh cần làm đối với mẹ. Nhưng anh yêu, nỗi lòng người con gái đang yêu lại bảo em rằng: Anh đã phụ lòng em. Em bị giằng xé giữa yêu thương và hờn trách. Em muốn tha thứ cho anh nhưng cũng hận anh nhiều. Em muốn quên nhưng không thể nào quên được anh.
...

Ngày... tháng... năm...
...
Anh yêu, anh nơi đó có vui, có hạnh phúc bên Ngọc? Sáng nay em cố tình đi ngang qua nhà anh. Căn nhà màu xanh hy vọng, màu mà chúng ta đã dự định sơn cho tổ ấm của mình sau này. Em muốn đi ngang qua đó một lần, lần đầu cũng như là lần cuối. Trước khi em rời khỏi nơi này mà đi. Có lẽ là sẽ không bao giờ em trở lại. Em còn mặt mũi nào mà trở lại nữa. Em muốn cho anh biết mình có con. Nhưng không muốn mọi người nghĩ rằng em viện cớ đó để kéo anh về với em. Cái bào thai ngày càng to. Ba mẹ cũng buồn nhiều. Nhưng ông bà không nỡ mắng, làm em càng thêm khó chịu.
...

Ngày... tháng... năm...
...
Anh, giờ anh đang làm gì. Anh có phải đang làm bánh như đã một lần hứa với em. Có lẽ, chiếc bánh anh đang làm là cho Ngọc. Chiếc bánh hứa phần em, mãi mãi sẽ chỉ là bánh hứa. Nhớ anh nhiều, đôi lúc em tự hỏi anh có một lúc nào đó nhớ đến em, nhớ về những kỷ niệm, những mơ ước của chúng ta ngày xưa. Em tự nhủ rằng anh đang đau khổ cũng như em đã và đang đứt từng mạch máu vì nhớ anh. Nhưng rồi em lại tự nhắc mình rằng anh đang sống rất hạnh phúc bên Ngọc, để cho em có cái cớ, có thêm nghị lực mà quên anh.
...

Ngày... tháng... năm...
...
"Người ta đi biển có đôi,
Còn tôi đi biển mồ côi một mình."
Người nữ hộ sinh hỏi em: chồng cô đâu? Em thiệt không biết trả lời sao nữa. Chẳng lẽ nói chồng tôi đang hạnh phúc bên vợ của ảnh. Con nó dễ thương lắm. Nó có cái đồng tiền của anh, cái mũi ngang bướng của anh. Có đôi lúc em nghĩ mình đã đến gần cái chết. Nhưng giờ con đã ra đời. Nó sẽ là lý do để em sống, sống có mục đích, có ý nghĩa. Em đã đặt tên cho con rồi, là Bất Hối đó anh.
...

Ngày... tháng... năm...
...
Tối qua con nó hỏi em về anh. Em nghe chết lịm trong hồn. Nó còn quá nhỏ để em có thể nói sự thật về người cha chưa từng thấy mặt của nó. Và còn quá nhỏ để em có thể tâm sự những quặn thắt trong lòng mình. Anh giờ ở đâu hở anh?
...

Ngày... tháng... năm...
...
Buổi chiều, đi làm về, con nó ngồi khóc thút thít. Nó kể là đám bạn đã trêu nó là đứa con không cha. Tội nghiệp con tôi. Anh ở đâu? Có nghe được lời con không anh?
...

Và còn nhiều nữa, bà Thảo cứ lật đều đều từng trang. Bên ngoài cửa sổ hình như có tiếng chim hót. Trời đã rạng sáng khi nào bà cũng chẳng hay. Bà mở tung màn sáo cửa sổ để đón ánh bình minh vào phòng. Tia sáng hồng ấm áp hứa hẹn một ngày đẹp trời. Bà đi xuống bếp để chuẩn bị các thứ nấu nồi bún riêu. Bà nghĩ, cũng đã đến lúc nên nói cho Bất Hối biết cha của nó là ai. Chẳng biết lát nữa đây phản ứng của Bất Hối sẽ ra sao. Gặp lại ông, bà sẽ thế nào. Nhưng dù sao bà cũng cảm thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng sau bao năm đơn chiếc nuôi con, sau một đêm thức trắng cùng kỷ niệm. Bà ân cần gọi:

- Bất Hối con, dậy đi. Sáng rồi con. Dậy rửa mặt đi rồi ra đây má muốn nói cho con nghe về ba của con.

Bên ngoài, mặt trời đang từ từ rướn mình lên khỏi rặng thông xanh. Đôi chim nhạn ríu rít hót chào mừng một ngày mới.

 

Nguyễn Thanh Trúc
Tháng Giêng '01