Câu Chuyện Về Một Loài Rong
Riêng tặng cô giáo cũ và H, B...Lương Thư Trung
Bạn ơi, có bao giờ bạn nghe người ta kể về loài rong đuôi chồn sống giữa hồ nước ngọt Avon?
Từ Boston, bạn theo con đường xa lộ xuyên bang 93 về hướng nam, đến exit 5A, bạn cho xe vào tay mặt và theo con đường 28 dẫn về hướng nam, mà ở thành phố nhỏ này, con đường 28 được mang thêm tên phụ là Main street. Cứ thế bạn đi một đỗi thật xa, mất chừng mười, mười lăm phút là bạn gặp một ngôi giáo đường lớn thật là lớn nằm bên tay mặt bạn, mà thỉnh thoảng vào một sáng chủ nhật tốt trời, nơi đây cũng có phiên chợ trời họp chợ rất đông người. Ngôi nhà thờ nằm ngay ngã ba đường. Bạn đừng theo con đường 28 xuôi về phía trái nữa, mà hãy giữ tay mặt để rẻ sang hướng đến hồ Avon. Từ ngã ba đèn đỏ đèn xanh này, bạn đi chưa đầy năm phút là bạn sẽ thấy một bảng chỉ đường với chữ "H" màu trắng trên nền sơn màu xanh dương, dấu hiệu của con đường đi đến một bịnh viện trong vùng, và bạn quẹo mặt theo con đường này là bạn đang đi vào vùng hồ Avon xinh đẹp. Hồ Avon cách chỗ ngã tẻ này không xa lắm. Và rồi bạn sẽ gặp một hồ đầy bông súng và rong đuôi chồn trùng trùng trong vùng nước mát gió nhẹ này.
Là một loài rong rêu, nên dáng dấp chúng tôi mong manh lắm. Có lẽ bạn muốn biết duyên căn nào mà loài rong đuôi chồn lại có mặt nơi hồ lạ giữa khu rừng nguyên sơ này chứ gì ? Được rồi, cảm ơn bạn, tôi sẽ dong dài cùng bạn về những trôi giạt của đời mình cho qua những lúc cô quạnh giữa hồ vắng vẻ.
Hồ Avon là một hồ thiên nhiên, rộng lắm. Con đường vòng quanh hồ là một rừng cây đủ loại bao phủ những tàn lá xanh vào mùa hèø, càng làm cho hồ nước thiên nhiên thêm thơ mộng và đẹp vô cùng. Thật tình, chúng tôi không biết nói làm sao cho thật chính xác về địa hình, địa vật nơi hồ nước ngọt này. Nhưng chắc bạn cũng không cần thiết lắm về thế đất, về cỏ cây, về vạn vật chung quanh? Bởi lẽ đời sống của mọi loài chung quanh là đời sống ở trên khô, đứng gần nước mà không đắm chìm trong nước, nên loài rong chúng tôi không rành lắm về sự có mặt của chòm xóm quanh mình.
Chúng tôi chỉ biết có điều là khu rừng bao phủ chung quanh hô øAvon phần nhiều là những loại phong vùng đông bắc Mỹ. Vào mùa Thu, những láù phong đỏ rực một màu đỏ thắm, rồi dần dần chuyển hoá ra vàng rực một màu vàng. Vào mùa Hè, như bây giờ, rừng cây xanh ngắt che kín mặt trời. Lá theo gió vi vu tiếng hát nhẹ đưa lan toả khắp vùng. Có lúc tiếng hát của lá rừng lại chảy tràn lên trên mặt nước hồ, làm lao xao những mảnh đời đang sống ngầm trong đáy hồ như rong rêu chúng tôi nữøa. Vào mùa Đông, rừng cây trụi lá trơ cành. Dù lớn nhỏ khác nhau nhưng cây rừng nơi đây đều chung số phận là đầu đội tuyết, chân giang rộng đôi chân với những chiếc rễ bám sâu trong lòng đất để đương đầu với thời tiết khắc nghiệt phủ chụp. Vào mùa Xuân, cùng với vạn vật, cây cối chung quanh đây như tràn ứa nhựa sống lên mọi cành nhánh để bừng khai những nụ hoa tươi đẹp, làm đẹp thêm cánh rừng nguyên thỉ, mà cũng tô vẽ thêm cái nét duyên dáng trầm mặc của toàn cảnh rừng phong bên hồ nước mát. Còn chúng tôi, loại rong đuôi chồn lại sống trầm mình trong nước, vậy mà rồi cũng trải qua bốn mùa thầm lặng dưới đáy hồ lạnh tanh, nào ai biết được ở dưới đáy nước sâu kia có mặt chúng tôi đang bườn qua một đời sống. Nhưng không sao, để rồi tôi sẽ kể cho bạn nghe về những tháng ngày gian khó của một kiếp sống nhiều thú vị ấy.
Bắt đầu một đời sống như muôn loài cỏ cây, chúng tôi là những hạt mầm nhỏ li ti bám trên những chiếc lá mục chìm sâu dưới đáy nước hoặc trên mặt bùn non tráng đều một lớp thật đều. Đời rong rêu là cuộc đời chùm gởi mà! Sống trong đất hay trong nước, mỗi mỗi chúng ta đều là những hạt mầm chùm gởi mà ! Loài này phải dựa lưng vào loài khác để sinh tồn! Có ai dám tự nhận rằng mình sống một mình một cõi? Có ai một mình mà tự lo cho mình hết thảy mọi việc của đời sống? Thành ra, mọi sinh vật bám lấy nhau để sống. Nếu không phải thế, sao tôi lại nghe bạn thường nói với những người chung quanh bạn là "sống gởi". Sống gởi là sống tạm hay sống nhờ vào nhau của nhiều loài trên mặt đất này với một vòng thời gian được hạn định sẵn mà con người, sinh vật, cỏ cây, rong rêu không làm sao biết trước ngày chấm hết một hạn kỳ...
Thế rồi, hạt mầm ấy ngo ngoe động đậy khi nơi đáy nước có sự chuyển mình của một mùa mới . Vào một buổi sáng tinh mơ, ánh nắng mặt trời toả đều lên mặt nước hồ, chúng tôi nghe trong nước có sự chuyển biến lạ, ấm áp hơn mọi khi và biết được tạo hóa đang cho mình sự sống. Và rồi, những hạt mầm chúng tôi nhè nhẹ chăm cái kim nhỏ xíu vào lá mục, vào bùn non. Nước trong hồ là nước đọng nên không chảy cuồng cuộn như các dòng sông, nhờ vậy mà những mầm non của rong đuôi chồn lại vọt lên không mấy hồi.
Trong đời sống ở mọi cõi đều có sự chạy đua, nhưng dường như, với rong đuôi chồn, chúng tôi có mặt với vạn vật là chỉ có măït vậy thôi; sống là sống vậy thôi, chứ không biết tranh hơn tranh thua gì với mọi loài cỏ cây chung quanh mình. Lại nữa các loài rong rêu nói chung, đều mềm yếu lắm, nên ngoi lên tới mặt nước đã là khó rồi, nói gì đến bon chen cho thêm phiền lòng.
Bạn thấy đó, trong lãnh vực thể thao, đội này thắng đội kia đã khó, lực sĩ này thắng lực sĩ kia cũng trần ai khoai củ rồi nói gì đến loài rong rêu trong nước. Nói thế có thể làm bạn nhạy cảm cho rằng chúng tôi chỉ biết cầu toàn, chủ bại cũng là điều hợp lẽ của tạo vật. Vì không ai lấy rong mà chống đỡ lại sức nước dâng cao cuồng cuộn chảy bao giờ. Nhưng có điều chắc chắn rằng nước bò tới đâu, rong đuôi chồn bò theo tới đó. Lấy cái yếu của rong nương theo cái mềm của nước mà sống lây lất trong dòng sống bất tận này cho vui. Nước lúc nào cũng hướng dòng chảy của mình về chỗ trũng, chỗ thấp và rong thì theo nước sống ở tận dưới đáy hồ sâu. Thành ra, mỗi ngày nước nơi đáy hồ vẫn thế và rong thì cứ mọc dài ra, vươn lên mặt nước, nơi có ánh sáng mặt trời bò qua mỗi ngày. Như lúc vào đề tôi có nói sơ qua cùng bạn, thân rong đuôi chồn rõng, hình ống tròn tròn bằng cọng tăm tre nhưng thướt tha lắm nghe bạn. Điều đó chắn bạn đã nhận ra là chúng tôi không cố chấp, không câu nệ và không muốn giữ lại cái gì trong bụng suông đuột của mình ngoại trừ những giọt nhựa non như nước lạnh. Ở cõi đời này có gì vĩnh hằng đâu mà cố giữ lấy cho mình một chút tư riêng để làm của cải.
Trên tấm thân nhỏ ấy, những nhánh lá mềm thật là mềm mọc ngang nhau, đối xứng từng cặp từng cặp, rồi chia đều những chùm lá kép tua tủa. Nói thế cho vui, chứ rong đuôi chồn làm gì có lá đâu bạn, mà thực ra, đó chỉ là những sợi nhỏ li ti tựa như những sợi tơ mềm mại. Nhánh lá này cách nhánh lá kia những khoảng cách đều nhau, dài chừng vài phân, chạy mút từ gốc lên tới ngọn rong. Tất cả những cành lá ấy xoắn xuýt nhau tạo thành một nhánh rong mướt rượt như cái đuôi con chồn. Có lẽ vì thế mà loài người, đặc biệt dân quê vùng đồng ruộng Cửu Long, thường đặt cho chúng tôi cái tên quen thân là rong đuôi chồn.
Bạn ơi, khi có thân rồi là bắt đầu những ngày mới mẻ khác. Từ trong lá mục, trong bùn non vươn ra, và bây giờ chúng tôi lại bám rễ vào bùn non, lá mục mà ngoi dần lên trong biển nước bao la.
Vào mùa nắng, nước hồ xuống thấp, rong đuôi chồn vươn lên tới mặt nước. Nhưng vào mùa mưa, nước hồ tuy không dâng cao hơn bao nhiêu sau những trận mưa rừng, nhưng chúng tôi cũng năm lần bảy lượt chìm sâu trong hồ nước lộp độp tiếng mưa rừng rơi dai dẳng không kịp hoàn hồn.
Đến mùa Thu, khi tiết trời nơi này trở mình, gió bấc mang hơi lạnh từ phương bắc tràn về, rong đuôi chồn bắt đầu rầu héo. Dù chưa phải gặp những cực hình hành hạ mình đến đỗi, nhưng sao chúng tôi nghe như cái lạnh đến hơi nhanh hơn thường ngày. Nắng vẫn lướt qua mặt nước nhưng hơi ấm không bền, chỉ thoáng chốc rồi lại tan nhanh. Thế là những ngày cuối thu lá phong rụng ào ào lên mặt nước hồ trong và chúng tôi biết mình lại phải giã từ những ngày nắng ấm rồi!
Cái lạnh càng lúc càng lấn sân và các loài nằm sâu dưới đáy hồ đang tìm nơi núp mình trong những bụi rậm hầu mong tìm một chút ấm áp. Và rong đuôi chồn cùng nhiều loài rong khác nơi hồ Avon này là chỗ dựa cho nhiều loài cá nước ngọt. Ở đây cá nhiều lắm. Những loài cá dễ ăn mồi như cá rô phi, cá trê vàng, cá lòng tong đá, cá lòng tong bay lội đặc nước đang dựa lưng vào những đám rong đuôi chồn dày đặc. Ở đó còn có cả những chị ốc bươu với lớp vỏ bên ngoài rong rêu phủ phục, mà mới nhìn, bạn sẽ dễ lầm đó là những cục đá mọc rong xanh.
Tháng chạp, mùa Đông đến rồi! Những trận tuyết đầu mùa bắt đầu rơi. Gió lất phất thổi qua càng làm nước hồ lạnh thêm. Vạn vật không sợ cái lạnh từ những vạt nắng nhạt mà lại sợ cái lạnh của gió lùa qua da thịt. Vào những ngày tiết đông hàn, gió thổi từ hướng nào cũng lạnh cắt da xé thịt chứ chẳng chơi. Nhưng khổ một nỗi là những ngày tháng mùa đông thường kéo dài hơn những ngày nắng ấm nơi này. Và vì vậy mà chúng tôi phải chìm dưới đáy hồ băng giá sáu tháng dài. Những cọng rong sượng mình, rủ ra rồi thành đá, và ngủ vùi trong cái lạnh căm căm như vậy triền miên... Cái lạnh mùa đông dai dẳng lắm. Có khi thân phận rong đuôi chồn phải thành thân đá lạnh trong băng giá không biết ngày nào hồi sinh.
Nhưng rồi sau mỗi chu kỳ chuyển vần, trời đất lại rục rịch xích gần tháng ấm. Chúng tôi bắt đầu cựa quậy lại khi rừng phong bên bờ hồ Avon bừng khai những chồi non cùng muôn cánh hoa tươi thắm ngát hương. Và đời sống của những loài dưới nước nơi này, trong đó có rong đuôi chồn lại bắt đầu lại từ đầu với những cọng rễ nằm lặng thinh lâu ngày trong bùn như lúc trời đất mới tạo thiên lập địa. Rong đuôi chồn èo uột lắm nhưng lại vui, vì mỗi lần bắt đầu lại một đoạn đời là bắt đầu một niềm hy vọng mới với dòng đời sẽ mới mẻ hơn, lạ lùng hơn. Cuộc phiêu lưu nào mà không phiêu bồng, vô định. Chính nhờ vậy mà những ngày bắt đầu một dòng sống mới lại đầy tràn háo hức... Chúng tôi lại đi lại từ đầu một lần phiêu bạt.
Bạn ơi, nếu được nói ra điều mình muốn nói, rong đuôi chồn nơi hồ Avon này sẽ nói là chúng tôi thích nhứt những ngày Hè. Nắng ấm làm những vạt rong tăng trưởng nhanh hơn nhiều. Những chùm rễ non mọc dài ra và bám thật chắc vào bùn , vào lá mục, làm cho cọng rong tròn hơn, nhánh rong dài hơn và lá rong mềm mại phất phơ trong nước trong, tô vẽ thêm cho thiên nhiên một nét đẹp diệu kỳ. Những nhánh rong xếp thành từng bậc, từng bậc như những tòa lâu đài chìm sâu dưới đáy nước bốn mùa. Rồi từ trong nước mát như vậy, những nhánh rong tròn đầy bắt ngọn lên khỏi mặt nước hồ để nở những nụ hoa trắng đầu mùa pha chút nhụy vàng phơn phớt, lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời, phản chiếu lung linh lên mặt nước trong leo lẻo.
Nơi hồ Avon này có điều lạ là những con đường quanh bờ hồ là đường một chiều, bạn chỉ có thể đi tới và hướng về phía trước chứ không thể quay xe trở lại hướng ngược chiều. Thời gian cũng đẫy đời sống mọi loài chạy nhanh ra phía trước nhiều lúc làm cho mình tối tăm mặt mũi nhưng không có cách nào về lại điểm bắt đầu. Đi một đỗi thật xa, phía bên tay mặt bạn, chỗ rẽ ra phía bên kia con đường cái, bạn có thấy nơi ấy là cả một rừng bông của một vạt rong đuôi chồn màu trắng tráng đầy mặt nước không? Lác đác bên khóm rong này hoặc bụi rong kia, vài con cá vui quá cũng nhảy chồm lên mặt nước để cho vài tiếng ụp móng làm cảnh vật thêm vui mắt.
Bạn ơi, sống ở đâu cũng vậy, mọi loài đều cần có nước. Xa nước là chết. Cá mắc cạn như cá thần gặp Trang Tử mà cá không thể vùng vẫy nổi nói gì khi cá lên khỏi mặt nước, cho dù cá nước ngọt hay cá vùng nước mặn. Người ta có thể nhịn đói khá lâu nhưng khô nước là không sống nổi. Bạn có còn nhớ hồi trước, vào thập niên 60, có bộ phim nói về chiến lơi phẩm cuối cùng trong một cuộc chiến trường chinh của một đạo binh các nước đồng minh, khi say men chiến thắng cứ băng băng vượt ngang qua sa mạc như dông như bão đi vào đất địch là gì không? Là những thùng nước lạnh giữa sa mạc hoang vu đó bạn! Người ta bỏ hết mọi thứ chiến lợi phẩm chiếm được trên đường hành quân mà chỉ để giành nhau từng giọt nước lạnh thôi! Bởi vì sự sống lúc bấy giờ không phải là vũ khí bảo vệ mình, hoặc là những vùng đất vừa mới chiếm đóng, mà là những giọt nước lạnh cuối cùng còn sót lại trước những cơn khát khô chát cổ họng của một đoàn binh viễn chinh. Mục đích cuối cùng của cuộc chiến tranh mà nó đã lôi kéo theo bao nhiêu đồng minh chết với mình chỉ để tranh giành những giọt nước lạnh, quả là một bài học trong số các bài học cần suy gẫm! Phải thế không bạn?
Như mọi loài, rong đuôi chồn xa nước cũng đành chết khô trong nháy mắt. Thế nên, bạn sẽ hiểu tại sao đồng loại chúng tôi sống được vào những ngày nước nổi ở đồng ruộng sông Cửu Long. Nơi chốn ấy chỉ có sáu tháng nắng và sáu tháng mưa dầm, nhưng rong đuôi chồn bên kia đại dương thật sự có mặt khoảng giữa tháng bảy đến cuối tháng mười một là thời kỳ tăng trưởng mạnh nhất. Những cánh đồng ngập nước trùng trùng vào mùa nước lụt toàn là rong với rong. Rong ngập dày bịt không chừa lấy những khoảng trống. Rong mọc nơi gò, rong mọc dưới lung sâu, và nhiều loại lắm. Nào là rong xanh, rong mền, gạc nai, mã đề, và rong đuôi chồn lá kép, rong đuôi chồn lá đơn chiếm đa số.
Ở vùng đồng ruộng lầy lội ấy là vùng đất lành, chẳng những chim đậu mà mọi sinh vật đều quần tụ về. Nơi chốn ấy chưa nhiễm nhiều ánh sáng văn minh nên người ta chưa tìm cách dùng các loài thuốc độc để diệt rong, nên các bạn tôi vẫn mọc được vào mùa nước và chết vào các tháng nắng hạn. Thành ra, dù ở đâu đi chăng nữa, bên kia vùng châu thổ hay nơi hồ Avon này, cuộc sống là hữu hạn, định kỳ. Vì thế một đời rong là một đời ngắn ngủi biết chừng nào! Thế nên, chúng tôi không ngại gian khó mà sống cho đời có nghĩa. Sở dĩ, giữa vũ trụ đang đi lên tới tận cùng của mọi văn minh, phát triển mà người ta ở đây còn giữ cho nhau một chỗ để rong đuôi chồn có dịp trổ bông, đâu phải là điều vô nghĩa. Phải vậy không bạn?
Bên cạnh những sưu tầm các loài cây quí hiếm mà người chơi cây kiểng kiếm tìm để nuôi dưỡng thành những gốc "bonsai" vương giả, thì nơi hồ vắng giữa thiên nhiên này, với những vạt rong đuôi chồn được thiên nhiên và con người dành cho một chút tình để nẩy nở, quả là một niềm vui thú lớn của một loài rong rêu rồi. Chúng tôi đâu dám mơ gì hơn thế nữa.
Vào tháng mười, bên kia đại dương thuộc vùng nhiệt đới gió mùa là mùa vụ sạ cấy bắt đầu. Thế nên, đời của rong rêu nơi ấy cũng theo mùa vụ mà thích nghi cuộc sống. Các loài rong nơi chốn ấy, vào những ngày sắp vào mùa sạ tỉa, là bắt đầu chấm dứt một đời sống. Người làm ruộng họ dọn rong bằng nhiều dụng cụ bén ngót. Dao dâu có, lưỡi hái có, mà nhất là cái bàn đẩy được rèn bằng những thanh sắt hình chữ "V" dùng rào ấp chiến lược một thời bỗng trở nên hữu dụng. Người làm ruộng đứng ngâm mình trong nước sâu và cứ thế mà dùng cái bàn đẩy tra cán dài bằng ngọn tầm vông để đẩy nhửng mảng rong rời xa mặt ruộng. Những lớp rong nổi phình lên mặt nước rồi theo gió trôi giạt xuống phía dưới gió tấp vào vách bờ ranh hàng hàng lớp lớp. Công việc không lấy gì làm khó cho lắm, nhưng chuyện không phải chỉ một đôi lần là làm cho miếng ruộng thành khoảnh ngay tức khắc, để những hạt lúa giống bắt đầu một đời cây lúa mai sau. Phải năm lần bảy lượt, dọn tới, dọn lui đất đai mới bằng phẳng cho cây lúa xanh tươi và mọi loài rong nơi ấy đành chia tay cùng đồng ruộng.
Thành ra, trong vũ trụ này, tạo hóa đặt định ra khi kết liễu một loại cỏ cây này là để bắt đầu gầy dựng cho một loại cỏ cây khác được sống. Chỉ có vậy thôi, giản dị lắm! Chính nhờ vậy mà trong trời đất này sự sống cứ liên tục, hết đời này tới đời khác, hết kiếp này tới kiếp khác, hết loài này tới loài khác và dường như không có cái chết nào là chết luôn, mất tiêu tăm tích. Sự sống hôm nay là cái chết hôm qua nuôi lấy. Đời sống của cây này là lá mục của cây kia làm đất, làm phân nuôi dưỡng nó xanh tươi. Chỉ có vậy thôi, giản dị lắm bạn ạ!
Mấy hôm nay, nơi này nắng nóng quá. Vì vậy mà du khách đi dạo quanh hồ lại đông hơn mọi ngày. Nằm êm trong hồ nước mát, chúng tôi nhận ra đôi bàn chân không mang dép mang giày, đặt nhẹ lên một vồ đá thấp nằm trong nước. Rồi từ từ bàn chân ấy rà lên mặt bùn. Vì quen với mùi bùn non nơi đáy hồ, rong đuôi chồn chúng tôi nhận ra đôi bàn chân ấy dính nhiều phèn của một người lăn lóc phong trần qua bao mùa cấy hái. Chúng tôi nằm im để nghe tiếng di chuyển thật chậm của bàn chân người lạ trong bùn non. Và in lên mặt nước là cái bóng xiên xiên của một người đàn ông chưa già lắm. Dĩ nhiên, với vóc dáng hơi nhỏ, ông bước những bước rất nhẹ đến một cụm rong khá dày đang nở bông rợp mặt nước. Chúng tôi vẫn nằm nguyên vị thế như đang ngủ, mà thực sự nào có ngủ được đâu. Sau một hồi nhìn ngắm mặt nước lao xao bông trắng nhụy vàng chi chít trước mặt mình, người đàn ông cuối người xuống một đám rong xanh biếc trước mặt. Ông đưa bàn tay mặt rà theo từng gốc rong và dịu dàng nhổ những cọng rong xanh biếc mềm mại. Ông rửa sạch bùn non và lá cây mục nơi những chùm rể non bám chặt. Và ông khoanh tròn những bụi rong như vậy để khỏi bị dập, rồi đặt nhẹ chúng tôi vào một cái thùng bằng nhựa đựng nước mát lạnh. Ông nâng niu chúng tôi như trứng mỏng. Nhận ra điều này, chúng tôi an tâm phần nào. Thế là thực tế cho chúng tôi nhận ra rằng có người lạ đang tìm kiếm mình. Và qua cách nhổ rong, cách cuốn tròn, cách đặt chúng tôi vào cái thùng bằng nhựa, chúng tôi hy vọng đời rong chưa đến nỗi nào. Nhận qua dáng vóc người vừa tìm rong, chúng tôi thầm nghĩ ông là một người có một thời sống gần với những loài rong rêu cây cỏ. Hay ít ra, trong cái thú tìm kiếm những loài cỏ nội hương đồng, người ấy phải có một thời sống với ruộng đồng thân thiết lắm. Vì không có một quãng đời chân lắm tay bùn nơi vùng đồng lúa ngập nước vào tháng chín dày bịt những lớp rong, người ta sẽ khó mà có được một chút tình thân ái ấy.
Cùng đi với ông là một người con trai còn rất trẻ. Người bạn trẻ này vừa mới gặp rong xanh lờ mờ dưới nước trong, lại xăn quần bước nhẹ xuống mé nước thật nhẹ nhàng, sành điệu như một em bé nhà quê có thời lùa bầy vịt tàu lội ngang qua những vạt rong chạy mồi. Những con vịt rượt đuổi nhau như chạy trối chết để giành lấy những con tép, những con cua nhỏ bám dưới nhánh rong, cậu bé nhà quê bước thật chậm nhìn từng con vịt sợ chúng tẻ bầy lạc mất. Và rong thì lại chìm lĩm dưới bước chân của đàn vịt vừa trườn mình cùng bước chân của em bé nhà quê nhè nhẹ.
Nơi hồ Avon này cũng có một đàn vịt trời đông lắm, có đến hàng ngàn con thong dong trên mặt hồ. Chúng lội lòng vòng trong hồ kiếm mồi một mình, không có những chú bé nhà quê lùa giữ khít rim như vùng đồng lúa nước ngập. Như những chàng du mục, nay chúng ở bờ hồ này, mai lại lên lùm cây khác kéo theo nhau từng đàn, từng đàn mà không sợ ai quấy rầy, săn bắn. Kiếm được con cua, con tép thì vui, nhưng nếu chẳng may suốt ngày không có lấy một miếng mồi thì cũng không lấy gì làm buồn. Rồi cứ thế mà đẻ trứng, thay lông theo tứ thời tám tiết.
Ở xứ sở này lạ lắm, từ con cá, con chim cho dĩ chí đến bụi cây, ngọn cỏ đều được con người trân quí lắm. Người ta tôn trọng và quí mến cái nét kỳ diệu của thiên nhiên như quí mến chính đời sống của mình. Cỏ cây, chim muông ở đây được sống hài hòa theo cái đạo tự nhiên của mình, biến hóa không ngừng mà vẫn không ra ngoài sự vận hành của trời đất.
Ngồi trên vồ đá nhỏ cạnh mé nước, người đàn ông gầy vói tay chỉ mấy nhánh rong non mềm mại và nói với cậu con trai :
- Con còn nhớ vạt rong đuôi chồn ở cánh đồng Rạch Trầu hồi mình còn bên nhà không?
Cậu bé trả lời:
- Dạ nhớ, Ba.
Rồi cậu lại nói tiếp:
- Ở đây đất lạ mà sao có nhiều rong đuôi chồn và bông súng quá Ba ?
Người đàn ông gầy buộc miệng:
- Đất thì ở đâu cũng là đất cũ con à, chỉ có mình là mới, là lạ vì mình từ xứ xa mới tới đây mấy năm. Còn rong đuôi chồn và bông súng có lẽ đã sinh sôi nơi này từ lâu lắm rồi, tại mình không biết đó thôi.
Rồi nhân nhắc đến chuyện cũ mới, lạ quen, người đàn ông gầy mới kể tiếp cho đứa con trai của mình nghe câu chuyện của cô giáo cũ của nó hơn mười năm về trước. Đại khái, chúng tôi nghe lỏm bỏm được rằng cô giáo ấy có ba là người Hà Nội hay Thái Bình gì đó, di cư vô Nam từ hồi 54, rồi trôi giạt về miệt Đơn Dương, một thị trấn miền núi nghèo, nằm cheo leo trên vùng đồi núi đầy thông reo cùng những cánh đồng dã qùy màu vàng rực. Về sau, trên bước đường lưu lạc, tình cờ chàng trai di cư năm nào ấy lại gặp một cô gái vùng Bình Khê, kế bên bờ sông Côn, thuộc đất Qui Nhơn. Đôi bên như có tiền duyên chồng vợ từ kiếp trước, nên người gốc biển kẻ chân trời lại hoà hợp sắt cầm giữa một thị trấn buồn. Cô giáo của con, thuở ấu thơ lại chào đời giữa thị trấn thông reo đó. Lớn lên cô lại đi học trên Đà Lạt, rồi vô Sài Gòn, lại về Đà Lạt học nghề "đưa đò".
Nghe tới đây, đứa con trai thắc mắc, bèn hỏi ba mình:
-Bộ có trường dạy"đưa đò" nữa sao Ba?
Người đàn ông gầy đáp:
-Thì Cô con bảo thế. Vì nghề dạy học chẳng khác gì người chèo đò. Đưa qua sông hết lớp học trò này tới lớp học trò khác, nhưng khách sang sông còn mấy ai lại nhớ ông lái đò đâu con!
Cậu con trai ra chiều chú ý câu chuyện của người cha đang kể, và nhắc chừng, rồi sao nữa ba?
Ông già lai rai kể tiếp:
- Sau đó, cô giáo của con ra trường và được bổ xuống dạy ở quận Đức Trọng năm năm. Sau năm năm đi đi, về về giữa Đức Trọng- Đơn Dương, dù sao cũng còn là quê nhà gần đó, cách nhau khoảng ba chục cây số vẫn còn gần, cô chưa thấy hết cái dòng đời cơ khổ đến mức nào. Lúc bấy giờ tuổi cô giáo con còn rất trẻ, mà tuổi trẻ nào lại không mơ ước đi xa cái nôi mình khôn lớn để học khôn như ông bà xưa đã dạy "đi một ngày đàng học một sàng khôn". Lúc đó, con khoảng chừng vài ba tuổi thôi. Con còn bú vú mẹ và theo bà nội nhỏng nhẻo chứ không như sau này con biết đi giăng lưới với ba trên cánh đồng phèn đầy rong đuôi chồn. Dĩ nhiên, con làm sao đi học được. Phải đợi đến khi con lớn, học hết lớp nhỏ mới lên lớp lớn, rồi mới bắt đầu học tiếng Anh. Lúc bấy giờ cô con lại đổi từ Đức Trọng xuống Lấp Vò mình và hai chị em con mới được cô dạy cho biết tiếng Anh, tiếng Mỹ đó. Đến năm mình đi rồi, Cô lại lội ngược lên Sài Gòn, tiếp tục cái nghề "chèo đò" thêm mười năm nữa, và cho tới bây giờ cô giáo của con vẫn còn lội ngược dòng nước để tìm về nguồn.
Uống thêm một chút nước từ chai nước lạnh để bên cạnh, người cha mới kể tiếp:
- Như vậy đó mà khi cô giáo con trở về Đơn Dương, thì người ở đó nói cô con đi hồi nhỏ, nên giờ hết ai biết gốc gác, tông tích của cô. Khi cô về Lấp Vò, thì đồng nghiệp cùng "chèo đò" ở Lấp Vò nói rằng cô là người ở tỉnh khác tới, không phải dân cố cựu vùng quê mình. Đến lúc trở lên Sài Gòn có đến mười năm rồi, Cô giáo của con vẫn bị coi là người ở tỉnh mới nhập cư, nên xin vô "hộ khẩu" Sài Gòn hoài mà không được. Rồi đến khi cô về quê nội ngoài Bắc, không còn ai biết cô là bà con dòng họ ra sao mà nhận, mà nhìn. Nhưng nói gì ngoài Bắc cho xa, ngay như khi cô giáo của con về Bình Khê, nơi mà lúc còn nhỏ mỗi lần về thăm ngoại, cô giáo của con được uống nước sông Côn đầy bụng, được ăn những trái khế chua trồng bên bờ cái giếng cạn, được bà ngoại cưng ơi là cưng mà giờ cũng đâu còn ai nhớ mình. Thành ra, qua đời sống trôi giạt của cô giáo con, ba mới nghiệm ra rằng đất vẫn cũ mà người thì không mới, nhưng đâu phải ai ai cũng nhìn nhận mình là căn cội từ đó mà phát xuất. Thế mới khổ! Sống giữa ruột thịt mà không có ruột thịt là vậy.
Đứa con trai nghe cha mình nhắc đến quê ngoại của cô giáo ở Bình Khê và uống nước sông Côn, mới nhớ trực lại câu chuyện vợ chồng ông giáo Hiến những ngày mới rời Thuận Hóa trở về làng An Thái, cặp bờ sông Côn, thuộc đất Bình Định, trong Sông Côn Mùa Lũ. Vốn vợ của ông giáo Hiến có người anh cùng cha khác mẹ tên là Hai Nhiều, nhưng khi gia đình ông giáo lưu lạc trở về quê vợ tìm được nhà Hai Nhiều thì chính người anh ruột của vợ mình vì xa lâu ngày này, mà cũng vì lòng tham lam sợ em gái mình về chia phần đất hương hoả, lại chối bai bải về mối liên hệ ruột rà:
"Dạ dạ phải. Đúng tôi là Hai nhiều. Bà nằm đây là em gái tôi ? Trời đất ơi! Từ lúc ông tôi còn sống, tôi có nghe ai nói đến người em gái này đâu! Sao ông bà không chọn ai khác mà lại chọn chúng tôi. Chúng tôi đâu có tội tình gì!"(*)
Nghe xong câu chuyện người con kể, ông già ngồi yên ra chiều suy nghĩ về cái gốc gác nhiều lúc không biết đâu mà mò. Rồi ông già như chợt nhận ra một điều gì vừa mới bắt gặp vui lắm. Và ông lại nói với đứa con:
- Những nhánh rong trôi giạt về cánh đồng cỏ phía sau chùa Linh Thứu, bên con lộ Lấp Vò ngày ấy, vậy mà bây giờ đã trổ bông ráo trọi. Bông trắng, nhụy vàng như rong nơi hồ Avon này, đẹp lắm.
Nghe nói vậy, chúng tôi hay vậy. Chứ thật sự không biết ai mang mình về đây, và mang về tư hồi nào hay là tự mình sinh ra từ trong nước, trong bùn mà có cho tới bây giờ, nhưng có điều, dù lạ hay quen, dù cũ hay mới, giữa các loài rong rêu, bông súng nơi này mà gặp lại những bàn chân quê còn thích bước xuống hồ nước phèn đã là mừng lắm rồi.
Nắng buổi chiều mùa Hè chiếu những tia nắng yếu ớt xuống mặt hồ nhưng vẫn còn sáng rực. Chúng tôi nghe mặt nước lại động đậy, chờn vờn như có bước chân ai bước nhẹ lên mặt bùn non. Thì ra, đứa con trai ông già lại bước xuống nước trở lại. Và bàn chân trần của nó đang rà từng bước lên mặt bùn như đang đi tìm một chút cảm giác quen quen của ngày cũ. Những nhánh rong lại được chạm nhẹ vào bàn tay của nó và đứa con trai nâng niu từng chiếc rể non mềm như tơ với nụ cười hiền.
Đứng bên mé nước, người đàn ông gầy cũng háo hức trong ánh mắt vui nhìn những nhánh rong trong xô nước mát như ông vừa tìm ra được cái gốc gác của chính mình. Rồi ông lại kể cho đứa con trai của ông nghe câu chuyện đứa con vừa tìm lại được cha nó sau gần hai mươi sáu năm xa cách ngàn trùng, mà ông có ra tận phi trường Logan, nằm ngoài bán đảo vùng East Boston, để đón nó.
Đứa con trai đang nhổ thêm vài nhánh rong, lại hỏi ba :
- Có phải vợ chồng anh Tâm, con của bác Bảy ở cù lao trên sông Cửu Long không Ba ?
Ông già trả lời "phải", rồi ông kể tiếp:
- Ba cùng với bác Bảy, chú Tám, và nhiều người đang đứng lố nhố chờ chuyến bay tới. Trên màn hình, hệ thống không lưu thông báo chuyến bay "164" từ Los Angeles vừa đáp xuống phi đạo. Mọi người hồi hộp và chờ. Bác Bảy lại càng ra vẻ làm tĩnh, nhưng ba thấy bác lại càng hồi hộp hơn. Hành khách từng đoàn, từng đoàn lũ lượt từ trong lối đi dành cho khách đến đang bước tới, nhưng sao mọi người cứ đưa mắt tìm hoài không thấy con trai và con dâu của bác bảy đâu. Một thoáng thất vọng hiện lên trên khuôn mặt mọi người. Bác Bảy Cù Lao lại hồi hộp dữ. Rồi một lúc lâu sau, cách năm ba phút mà như thời gian ngừng lại lâu lắm trong lòng mọi người thân đang đứng đón, ai cũng lo lắng giùm cho bác Bảy. Mọi người xúm nhau hỏi bác Bảy còn nhớ ra khuôn mặt thằng Tâm không? Bác Bảy Cù Lao trả lời là "nhớ mài mại, vì lâu rồi cha con không gặp. Hồi "sập tiệm" nó mới một tuổi, tui thì đi tù ngoài Vĩnh Phú mút mùa". Rồi mọi người cứ hy vọng khách đi ra chưa hết.
Từ thật xa, bên trong lối đi, một đoàn hành khách khác lại lũ lượt bước ra. Mọi người lại bắt đầu háo hức chờ, lòng như vui trở lại. Bác Bảy Cù Lao chỉ đứa con từ xa và nói một mình:
- "Nó đó! Nó đó! Đứa con gái đi bên cạnh chắc là vợ nó. Tui chưa gặp con dâu tui lần nào vì tụi nó mới cưới nhau bên Gò Công hồi nửa năm trước".
Mọi người trố mắt nhìn hai đứa trẻ Việt Nam trong đoàn hành khách người ngoại quốc mà nghe thương yêu lắm. Bác Bảy Cù Lao ôm choàng lấy đứa con trai và con dâu mà chảy nước mắt:
- Hai mươi mấy năm rồi, cha con mình mới gặp lại được, ba mừng lắm!
Mọi người nhìn cha con mừng mừng, tủi tủi mà không khỏi bồi hồi xúc động.
Uống thêm một hớp nước lạnh, ông già kể tiếp:
- Khi về đến căn nhà trọ rồi, bác Bảy lui cui thắp ba nén nhang van vái trước bàn thờ ông bà. Rồi bác Bảy lạy bàn thờ bốn lạy. Vợ chồng anh Tâm làm theo cha, thắp nhang và lạy bốn lạy. Chờ cho con lạy xong rồi, bác Bảy nói:" Ba còn sống ngày nào là ba lo hết cho các con ngày nấy. Đời của Ba đã khổ nhiều rồi, lo âu nhiều rồi và nay Trời Phật, Ông Bà đã cho cha con mình sum họp, Ba biết ba hết khổ." Vợ chồng anh Tâm nghe cha mình nói vậy, hai đứa trẻ cũng chảy nước mắt. Giữa đêm tối mịt, gió se se lạnh bên ngoài, làn khoiù nhang nghi ngút, tỏa một mùi hương thật nhẹ nhàng, quấn quít bên hai ngọn đèn cày cháy sáng tỏ tường, gợi nhớ về cái cội nguồn thiêng liêng biết chừng nào và căn phòng khách nhà bác Bảy đêm hôm ấy bỗng dưng ấm áp lạ! Mọi người có mặt vô cùng xúc động và vui lây với gia đình bác Bảy.
Kể đến đây, người đàn ông gầy vẫn còn nghe như mình đang nằm chiêm bao về một đời rong chìm nổi. Và rồi ông lại nói với đứa con trai:
-"Rong thì trở về với đồng ruộng, với hồ ao con à. Trời đất đặt định như vậy. Dù có trôi giạt nơi nào đi chăng nữa rồi cũng sẽ trở về cánh đồng cũ thôi! Chỉ có ở những nơi ấy, một đời rong mới mong tươi tốt trổ bông được. Những nụ bông của rong đuôi chồn rồi sẽ nở những cánh trắng, nhụy sẽ vàng, đẹp lắm, dù đó chỉ là những hương đồng cỏ nội quê mùa."
Như hiểu được ý cha mình, cậu con trai chớp chớp đôi mắt như có vài giọt nước mát từ mặt nước văng lên...
Một lúc lâu, không nghe tiếng hai cha con người nhà quê chuyện trò nữa, chúng tôi nghĩ chắc họ đã trở về bến trọ chốn nào rồi ! Mặt nước hồ im phăng phắc như mọi buổi chiều khi ánh nắng hoàng hôn vừa núp bên kia rừng phong sầm uất. Và rồi, những vạt rong đuôi chồn nơi hồ Avon này, vừa cảm nhận ra thêm một điều là kể từ buổi chiều hôm ấy, trong dòng đời trôi giạt phiêu bồng của mình, chúng tôi có thêm được một niềm vui...
Lương Thư Trung
Phụ chú:
(*) Trích Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác, chương 2, trang 69.