Đọc Tập Truyện Loại Biên Khảo Sử
“Mộng Bá Vương”
của Nhà Văn Đỗ Hùng

 

phương điền nguyên

 

[Lời người viết: Sau ông Nguyễn Triệu Luật, một nhà văn căn cứ trên những nhân vật của sử để viết

truyện, được người đời truyền tụng. Rồi đến nhà văn Nam Dao, hiện ở Canada cũng viết truyện lịch sử giai đoạn Trịnh-Nguyễn và anh em Tây-Sơn đầy kịch tính; đến nay nhà văn Đỗ Hùng vừa mới cho xuất bản cuốn MỘNG BÁ VƯƠNG – cũng loại sử truyện – bằng lối văn kể chuyện giản dị, trong sáng có giá trị văn học mà người đọc rất thích thú. Truyện có sức lôi cuốn người đọc thường do tài năng của người viết văn.

Tập truyện của Đỗ Hùng đưa những lời đối thoại, phù hợp với tình tiết từng nhân vật rất “tỉnh, ung

dung” hay nói cách khác là không cường điệu, gượng ép. Các nhân vật liên kết, gắn bó theo lẽ “trung thực tuần tự của chính sử.” Tuy nhiên, bạn đọc vẫn không thấy thiếu vắng sự phong phú khung trời lãng mạn của bối cảnh lịch sử mà thân phận người éo le thường gặp.

Được biết, Mộng Bá Vương xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Chính Nghĩa của Kim Âu Hà Văn Sơn cách đây ba năm, kế đó là nguyệt san Non Nước của bà Nguyễn Thúy Loan tại Georgia. Và Mộng Bá Vương bước dài thêm những lần nữa, được in trên hai tuần báo Đất Nước và Đất Việt bên California; riêng tờ Đất Việt còn có một ấn bản nữa ở Pháp. Ngoài ra, cuốn Mộng Bá Vương còn được các sử gia nhận đọc để phê bình như: Linh mục Công giáo sử Phan Phát Huồn; Nguyễn Cần (Tú Gàn); sử gia Vũ Ngự Chiêu (Nguyên Vũ); sử gia Nguyễn Mạnh Quang (Tiến sĩ sử Hoa Kỳ)].

 

 

Với công trình nghiên cứu ba năm ba bộ sử lớn nhất: “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” [dưới thời Lê-Trịnh]; “Đại Việt Sử Ký Tiền Biên” [do Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Đản]; “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” [của Quốc Sử Quán triều Nguyễn] và những tài liệu khác mà Đỗ Hùng có được... Ông tài tình chi tiết lại những đoạn đời của lịch sử cận đại [khoảng 300 năm, từ khi Mạc Đăng Dung ép đổ nhà Lê, cho đến lúc nhà Tây Sơn mạt vận để khởi đầu Nguyễn Ánh], nhà văn Đỗ Hùng đã cho xuất bản tập truyện MỘNG BÁ VƯƠNG vào cuối tháng Hai năm 2001; do nxb Văn Hữu in lần thứ nhất, Văn Hóa phát hành tại Hoa Kỳ. Bìa là hình ảnh một chiếc ngai vàng “mịt mờ sương khói, ẩm mốc đen thâm của một thời hoàng kim, tôn vinh, lẫn sau bao mưu mô, chém giết...” Và lưng chiếc ngai vàng, một bóng người đầu chống càm, ôm chân bó gối [biểu tượng con người có quyền thế, nhưng rất đỗi cô đơn] của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi. Layout Lâm Chương. Sách dày hơn 300 trang. Đó là về hình thức cần phải có của loại tập truyện sử. Sách không hào nhoáng mà mang vẻ nặng suy tư của cả người viết lẫn đọc.

Đỗ Hùng đưa người đọc đi từ giai đoạn Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê [Mộng Bá Vương], được Thái sư Nguyễn Kim, trung quân nhà Lê, đưa con rể là Trịnh Kiểm ra đất Bắc; để rồi Nguyễn Kim bị đầu độc chết - Trịnh Kiểm nắm hết binh quyền, lất át vua Lê. Trên đất nước Việt, thành hình cùng lúc hai triều đại, gọi là Nam-Bắc Triều. Cuộc phân chia đầu tiên trong lịch sử dân tộc [trang 54].

Sau giai đoạn trên, đến Cuộc Tương Tàn,” Trịnh Kiểm hỏi ý kiến Trạng Trình về ý định lên ngôi vua, được cho ý kiến là nên lấy giống cũ mà gieo; Trịnh Kiểm lập Lê Duy Bang, tức Lê Anh Tôn lên ngôi. Nhân dịp này, Nguyễn Hoàng [cậu của Trịnh Tùng] nài nỉ chị là Ngọc Bảo, xin anh rể [Trịnh Kiểm] cho mình vào trấn thủ Thuận Hóa. Rồi anh em Trịnh Cối và Trịnh Tùng bất hòa. Nhà Mạc tiến quân đánh Trịnh/Lê. Trịnh Tùng nắm hết quyền bính. Thời gian này, vua Lê rất sợ Trịnh Tùng nên trở thành bù-nhìn. Trịnh và Mạc vẫn đánh nhau. Lại bắt đầu Lê Duy Đàm, tức Lê Thế Tôn giao Trịnh Tùng được quyền xử trước mới trình sau. Năm Canh Tý, 1600, Lê Duy Tấn 12 tuổi lên ngôi tức Lê Kính Tôn, lấy con gái của Trịnh Tùng. Trịnh Tùng coi vua như thừa, sử dụng nghi vệ đế vương. Bình An Vương Trịnh Tùng trở thành Chúa Trịnh từ đây. Nước Việt lập thể chế có vua coù chúa từ đó. Lê Kính Tôn mưu với con thứ của Trịnh Tùng là Trịnh Xuân ám sát Chúa nhân cuộc đua thuyền nhưng thất bại. Lê Kính Tôn tự xử, con là Lê Thần Tôn kế vị. Lúc này Trịnh Xuân làm loạn phủ chúa sau khi nghe Trịnh Tùng lập Trịnh Tráng làm thế tử. Trịnh Tùng mất, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng nối nghiệp cha, quyết tóm thâu quyền lực của lãnh chúa phương Nam Sãi Vương Nguyễn Phúc Nam, đưa dân vào cảnh lầm than gần nửa thế kỷ. Thế quân Nguyễn áp lực nặng ở Nghệ An, tháng Chín năm Đinh Dậu Trịnh Tráng từ trần, Tây Vương Trịnh Tạc thay cha nắm quyền chinh chiến. Năm Tân Dậu 1682, Trịnh Tạc mất; Trịnh Căn lên nối nghiệp. Trong thời gian này, ba người con và cháu của Trịnh Căn lập làm thế tử bất ngờ chết đi. Kỷ Sửu 1709 Trịnh Căn chết, Trịnh Cương nối nghiệp. Trịnh Cương biết nghiệp báo của tổ phụ nên lấy đức phá nghiệp; đối với vua Lê, chúa trân trọng giữ đúng nghi lễ nên vua Lê Dụ Tôn mến phục chúa. Rồi Trịnh Cương mất trong tuổi 40, Uy Nam Vương Trịnh Giang nối nghiệp. Trịnh Giang ác, ăn chơi trụy lạc nên đất nước loạn lạc; vua Lê bị kết án hoang dâm phải phế. Rồi Trịnh Giang bị phế; Trịnh Doanh ngự trị phủ liêu. Năm Đinh Hợi 1768, Trịnh Sâm kế nghiệp phụ thân, thù hận anh rễ là Thái tử Lê Duy Vĩ. Hai họ không còn hòa hiếu như thời Trịnh Doanh. Thời gian này, vì Trương Phúc Loan lộng quyền nên Trịnh Sâm quyết định Nam tiến, chiếm Phú Xuân, Thuận Hóa. Nhưng mầm tranh giành trong cung chúa Trịnh bộc phát càng cao.

Bắt đầu từ đây, độc giả đi vào chi tiết “Hồng Nhan,” chuyện Bà Tuyên Phi Đặng Thị Huệ [tục gọi Bà Chúa Chè lấy Trịnh Sâm đẻ ra Trịnh Cán] và cũng bắt đầu có quân Tây Sơn khi Nguyễn Hữu Chỉnh trốn khỏi miền Bắc về đầu. Quân Tây Sơn đánh như  bão, quân Trịnh từng mảng tan vỡ. Cơ nghiệp 200 năm của chúa Trịnh [Đoan Nam Vương Trịnh Khải – là con trưởng của Trịnh Sâm bị phế – trước đó có tên là Vương tử Trịnh Tông - ứng với lúc lên một, Trịnh Tông được cho ăn thôi nôi, giữa bao số đồ chơi, có cục đất, Tông cằm cục đất đập bể nát], quân Trịnh tan chỉ hai tuần lễ.

Hồng Nhan là câu chuyện đầy tình tiết lãng mạn giữa Chúa Trịnh Sâm và Bà Chúa Chè, Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, giữa lúc hàn vi đi hái chè, bà hát trên đồi:

 

“Chị giàu chị lấy ông nghè
Chúng em khốn khó trở về lấy vua.”

 

Tình huống như bao cung nữ bị vua/chúa lãng quên trong cung cấm; đến nỗi Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết ra Cung Oán Ngâm Khúc và Nguyễn Hữu Chỉnh viết Cung Nữ Thi được người đời truyền tụng sau này. Riêng Tuyên Phi Đặng Thị Huệ quá được ân sũng của Trịnh Sâm.  [Trong đoạn này, quý đọc giả sẽ gặp Nguyễn Khản là anh Nguyễn Du, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Gia Thiều, Thái Thượng Lãn Ông, Phan Huy Ích... tên của các nhân vật trong văn học sử mà người đọc thường gặp]. Đến khi Trịnh Sâm mất, Ngọc Hoan âm mưu với kiêu binh đưa con mình lên ngôi Chúa, đày Tuyên Phi Đặng Thị Huệ ra Sơn Lăng để hương khói mộ phần cho Trịnh Sâm.

            Chim Bằng bắt đầu vào năm Nhâm Tuất 1742 với Nguyễn Hữu Chỉnh còn nhỏ tuổi. Chỉnh làng Động Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An theo học với ông đồ Ngang, 16 tuổi đỗ Hương Cống [cử nhân]. Sau ngày thi đỗ, Chỉnh chuyên tâm nghiên cứu binh thư đồ trận, tự đặt hiệu là Bằng Lĩnh, ví mình như chim Bằng tách gió mù khơi. Năm Giáp Ngọ 1774, lợi dụng triều đình chúa Nguyễn rối loạn,  quân Tây Sơn chiếm thành Qui Nhơn. Nguyễn Nhạc xin thần phục chúa Trịnh [Tông]. Chỉnh về đầu, Nhạc phục tài biện thuyết của Chỉnh. [Chỉnh âm mưu chia đôi sơn hà với họ Trịnh, kế không thành nên xuôi Nam đầu Tây Sơn]. [Vua] Tây Sơn là dân dã, rất trọng đám danh sĩ Bắc Hà, trong đó có Chỉnh nên được trọng vọng.

            Anh em Tây Sơn, Chỉnh phục và sợ nhất Nguyễn Huệ. Chỉnh xa quê hương, muốn dựa thế lực Tây Sơn diệt cả vua Lê lẫn Chúa Trịnh để về lại Bắc. Vua Tây Sơn muốn đánh Phú Xuân, nhưng Chỉnh thuyết Tây Sơn động binh đánh Trịnh. Chỉ trong vòng hai tuần, Tây Sơn làm chủ đất Thuận Hóa. Rồi Chỉnh thuyết phục Huệ kéo quân ra Bắc, chỉ một trận đánh tan quân Trịnh. Nhân dịp tiệc vui thắng trận, Chỉnh lỡ lời “nhân tài đất Bắc chỉ còn Chỉnh...” Huệ cười: “Đúng... người đất Bắc ta không ngại ai. Chỉ còn mình ông đó thôi!” Dẹp được Trịnh theo lẽ phù Lê, Nguyễn Huệ do sự dàn xếp của Chỉnh, lấy Bà Chúa Tiên, con vua Lê Hiển Tôn. Hiển Tôn băng, hoàng tôn Duy Kỳ, niên hiệu Lê Chiêu Thống lên nối ngôi. Khi rút để lo cho maặt trận miền Nam, Nguyễn Huệ sợ Chỉnh là ‘tay khuynh đảo khôn lường...’ nên Tây Sơn bỏ lại, dặn Vũ Văn Nhậm, con rể Nguyễn Nhạc theo dõi Chỉnh, vì người đời đất Bắc ghét Chỉnh phản Chúa Trịnh.

            Lẻ loi, không ai chứa chấp, Chỉnh về quê cha làm giả lệnh vua Lê, tuyển mộ lính. Vua Lê Chiêu thống căm thù Trịnh, triệu Chỉnh về dẹp loạn. Cơ nghiệp Chúa Trịnh đến Trịnh Bồng chấm dứt hơn 200 năm phi đế phi bá bị Chỉnh và vua Lê Chiêu Thống đốt sạch. Nhà Lê sau bao năm chinh chiến không tiền, Chỉnh bàn với vua lấy vật dụng bằng đồng đúc tiền, nước nhà tạm ổn. Năm Đinh Mùi 1787, vua âm mưu đầu độc Chỉnh, Chỉnh bỏ qua vì còn đại cuộc. Sau khi đánh tan tướng Hoàng Phùng Cơ [nhà Lê], thanh thế Chỉnh lẫy lừng thiên hạ. Chỉnh xui vua cho sứ giả vào Phú Xuân xin Nguyễn Huệ lại đất. Tiến sĩ Trần Công Xán [thầy Chỉnh] vào gặp Nguyễn Huệ. Biết mưu này do Chỉnh, Nguyễn Huệ nói: Ta quyết ra Bắc giết cha con tên Chỉnh. Rồi Nguyễn Huệ đánh thành Qui Nhơn và Bắc Hà để Chỉnh không có thời gian củng cố quyền lực. Huệ cho Phan Văn LânNgô Văn Sở hợp với Vũ Văn Nhậm tiến quân ra Bắc. Dân kinh thành sợ Nhậm tàn ác, cướp báu vật nên tìm nơi lánh nạn. Kinh thành máu đỏ. Quân Chỉnh đến Hà Đông, bàn với hai con dẫn 400 quân về Thăng Long, vua Lê chạy lên Kinh Bắc. Vũ Văn Nhậm cử tướng Nguyễn Văn Hòa đem 5 ngàn quân truy kích cha con Chỉnh. Tây Sơn bắt Chỉnh giải về Thăng Long. Chỉnh muốn gặp Nhậm, Nhậm quyết giết Chỉnh cho ngựa xé.

Đoàn Nương [vợ Chỉnh] có mặt trong đám người đến pháp trường, [sách viết]:

“...Con phố thênh thang không có bóng người. Lúc sau, Nương nghe một hồi chiêng trống vọng lại. Tiếng âm u báo hiệu lúc lâm chung... Nương ứa nước mắt. Hỡi trời, trời chẳng thương hào kiệt, chẳng xót anh hùng... Người lão bộc đợi sẵn ở cổng đưa Nương vào nhà. Căn nhà đẹp yên tĩnh nhìn ra Hồ Tây. Bước vào nhà, Nương thấy lão lập sẵn bàn thờ, bài vị. Lão đưa nàng nén hương. Nương khóc. Trời đã về chiều... Mưa rơi hiu hắt. Định mệnh độc ác cách chia kiếp người đôi bờ sinh tử. Câu kinh cầu vô vọng mờ trong hương khói vô thường. Trời đã về chiều... Nương nghe rất rõ hàng trăm tiếng chuông chùa nhỏ giọt. Chính chồng nàng đã từng ra lệnh thu chuông đúc tiền, nay người mất nhưng chuông vẫn còn, vẫn thong thả ngân nga... Kỳ diệu thay tiếng chuông sưởi ấm lòng người. Nâng đỡ kẻ yếu đuối, kẻ cô đơn đi trọn kiếp phù trầm luân lạc...”

            Tây Sơn Đại Huynh: 1765, quyền thần Trương Phúc Loan tự động đổi di-chiếu đặt Nguyễn Phúc Thuần 12 tuổi lên ngôi là Định Vương để dễ sai khiến. Phong cách và võ nghệ của Nhạc được giới võ lâm tôn Tây Sơn đại huynh. Nhạc được tặng kiếm báu và thầy dạy học, Giáo Hiến, đặt kế hoạch. Nhạc tạm thời nhận chức Biện Lại [thu thuế]. Nguyễn Huệ khẩn hoang tại Tây Sơn Thượng tuyển người. Nguyễn Lữ đang tu cũng về giúp Huệ luyện quân. Các hào kiệt Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân vào Tây Sơn Thượng đầu quân.

            Năm Tân Mão, 1771 Nam Hà đói lớn, người ta ăn cả thịt người; Nhạc nói vào Tây Sơn Thượng sẽ có cơm ăn. Vụ thuế năm ấy Nhạc đem về chiến khu. Nhâm Thìn 1772, tri huyện Tuy Viễn đem vài trăm quân dẹp giặc cướp Nguyễn Nhạc bị Trần Quang Diệu đánh cho tan tác. Thanh thế Tây Sơn lớn như thổi - lấy của người giàu cho người nghèo. Các sắc dân thiểu số cũng thần phục Tây Sơn. Tù trưởng Banard gã con gái giúp chồng trong việc phá rẫy. Nữ chúa Chiêm Thành yểm trợ Tây Sơn. Nhạc điều binh dùng tiếng trống hào hùng, dồn dập, thôi thúc vang rền như tiếng quân reo ngựa hí, điệu khải hoàn tưng bừng, vui tươi náo nức lòng người. Nguyễn Nhạc nghe tiếng trống thấy lòng rạo rực, như đang chiến đấu giữa sa trường với hàng hàng lớp lớp tướng sĩ [sách dẫn]. Mùa Xuân Quý Tỵ 1773, Nguyễn Nhạc xưng Tây Sơn Vương, Nguyễn Lữ lo lương thảo, Nguyễn Huệ chỉ huy doanh trại. “Thập bát cơ” là 18 người chỉ huy nòng cốt lúc ban đầu của Tây Sơn.

            Mùa Thu năm ấy, quân Tây Sơn chia ba đạo quân, chiếm huyện Tuy Viễn, Bồng Sơn, Phù Ly, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận; bao vây Qui Nhơn [tức thành Đồ Bàn, kinh đô Chiêm Thành cũ] nhưng không được. Tây Sơn rút lui tính kế. Vài ngày sau tin Nguyễn Nhạc bị quân Nguyễn phục kích bắt. Nguyễn Nhạc bị trói nằm trong cũi đưa vào thành; pháo nổ vang, quân Tây Sơn trà trộn trong dân tiến vào chiếm thành - Nguyễn Nhạc ra khỏi cũi, chỉ huy chiếm thành. Qui Nhơn thất thủ. Tây Sơn tiến đánh Quảng Ngãi. Bọn cướp biển người Tàu về hàng phục. Quân Nguyễn cứu viện bị Tây Sơn phá vỡ tại núi Bích Khê. Quảng Nam thất thủ làm Phú Xuân kinh hoàng vì thiếu lương thực, may có thuyền chuyển lương của Mạc Thiên Tứ từ HàTiên sắp vào tiếp. Quân Tây Sơn cướp lương. Định Vương thân chinh dẫn quân tái chiếm Quảng Nam, nhưng phải rút về vì quân Trịnh trên đà Nam tiến. Giữa mùa Đông, quân Tây Sơn bị đẩy khỏi Quảng Nam.

            Cuối tháng Mười, quân Trịnh mang tối hậu thư vào Phú Xuân buộc Định Vương đầu hàng và nộp Trương Phúc Loan. Định Vương muốn hàng, nhưng hai tướng Võ Di NguyĐỗ Thành Nhân không chịu.Trương Phúc Loan bị bắt giải sang Trịnh. Quân Trịnh chưa thỏa mãn, vẫn tiến. Nhà Nguyễn chạy vào Cửa Hàn, Quảng Nam; trong đó có Nguyễn Phúc Ánh [con Nguyễn Phúc Luân] chạy vào Gia Định. Giữa khi Trịnh-Nguyễn đánh nhau, Tây Sơn tổ chức phản công, Nguyễn Huệ chiếm Phú Yên, Quảng Nam... Bính Thân 1776, Tây Sơn đánh quân Nguyễn ở Sài Côn, Trấn Biên. Nguyễn Phúc Ánh chạy xuống Cà Mau. Nguyễn Nhạc xây đàn Nam Giao chuẩn bị lên ngôi thiên tử năm 1778, niên hiệu Thái Đức; phong Nguyễn Lứ làm Tiết Chế, Nguyễn Huệ Long Nhượng Tướng Quân. Nguyễn Phúc Ánh được Bá Đa Lộc che chở, đang ở gần thủ đô Vọng Các [Xiêm]. Nguyễn Huệ trở về Qui Nhơn, quân Nguyễn do Đỗ Thành Nhân, Dương Công Trừng, Châu Văn Tiếp chiếm Vĩnh Long, Gia Định; đem Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm Tân Sửu 1781, quân Nguyễn có đủ tàu chiến do Pháp giúp. Tây Sơn đem thủy binh đánh Gia Định tại cửa Cần Giờ, giết thuyền trưởng Pháp, Nguyễn Ánh chạy ra đảo Phú Quốc, đảo Cổ Long... Mùa Xuân 1784, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm. Thủy quân Xiêm bị đại bại tại Rạch Gầm và Rạch Xoài Mút. Nhưng trong thời gian này, tình huynh đệ của Tây Sơn sứt mẻ, thế chân vạc gãy mất một [Nguyễn Lữ mất], Nguyễn Huệ vây thành Qui Nhơn của Tây Sơn Vương. Nguyễn Ánh củng cố lực lượng. Bá Đa Lộc thay Ánh ký  nhường đứt đảo Côn Sơn và cảng Hội An cho Pháp. Pháp giúp kỹ thuật. Vua Tây Sơn chủ quan coi thường, do việc chán nản gia đình. Mậu Thân 1788, Võ Tánh kéo quân về trợ lực quân Nguyễn; và cũng năm này Nguyễn Huệ ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm.

Trong Nam, Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định. Không về Nam thanh toán quân Nguyễn được - Nguyễn Huệ biết vua Càn Long nhận lời cầu cứu của Lê Chiêu Thống cổng rắn cắn gà nhà, cho Tôn Sĩ Nghị đem trên 3 vạn quân chà nát vùng thượng du miền Bắc. Quân Thanh nghênh ngang vào Thăng Long. Nguyễn Huệ phải lên ngôi hoàng đế năm 1788. Ba ngày sau vua Quang Trung ra lệnh xuất quân. Nguyễn Huệ hỏi ý La Sơn Phu Tử, bàn kế tấn công địch vào dịp tết nguyên đán. Kỷ Dậu 1789, Tây Sơn phát pháo tiến quân. Mồng Ba Tết hạ thành Hà Hồi. Mồng Bốn Tết, vua quàng khăn vàng quyết tử chiến, đốt hết lương thảo, tiến đánh Ngọc Hồi. Chiến trường mù mịt khói.

Quân Thanh đạp chết lên nhau mà chạy. Hứa Thế Hanh bị chém rơi đầu. Sáng mùng Năm, Tôn Sĩ Nghị không kịp măïc áo giáp, chạy trốn. Chiều mồng Năm, vua Quang Trung vào Thăng Long áo bào đen khói súng. Tuy nhiên, biết nước lớn không chịu nhục, vua Quang Trung giao cho Ngô Thì NhậmPhan Huy Ích lo việc ngoại giao. Vua Thanh phong Quang Trung làm An Nam Quốc Vương. Đầu năm 1792, Quang Trung viết thư trách anh để mất Gia Định, muốn hợp cùng anh chiếm lại Gia Định; nhưng Quang Trung bị bệnh mất năm 40 tuổi, tạo cơ hội Nguyễn Ánh thoát hiểm.

Quân Nguyễn vây chặt Qui Nhơn. Vua Tây Sơn cầu cứu cháu là vua Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh nhỏ dại, mọi quyết định trong tay người cậu là Thái Sư Bùi Đức Tuyên. Tuyên mật lệnh cho Phạm Công Hưng chiếm luôn Qui Nhơn. Thái Úy Hưng vào thành ngang nhiên kiểm kê. Thanh báu kiếm trên tay vua lóa sáng, lao thẳng vào mặt tên hỗn xược. Hưng tránh kịp. Báu kiếm rơi xuống nền nhà biến thành làn khói xanh bay mất. Rằm tháng Chạp Quý Sửu 1793, vua Thái Đức nằm bất động. Có cánh chim lẻ loi hót nghe não lòng. Nguyễn Ánh đại thắng vào tháng Năm năm Nhâm Tuất 1802, lấy niên hiệu Gia Long.

 

            *Tập truyện Mộng Bá Vương nghiên cứu viết trong ba năm, có giá trị văn học sử. Đỗ Hùng 6590 Patriot Dr., Columbus, GA 31909, đt: 706-569-1086. [pđn]

 

phương điền nguyên