Nghĩ Thân Cá Chậu

Lương Thu Trung

"Cá buồn, cá lội thung thăng,
Người buồn, người biết đãi đằng cùng ai !?"
( Ca dao )

Không biết duyên cớ nào tôi lại có mặt nơi đất lạ này ... Rhode Island là nơi tôi đến đấy từ mấy ngày qua . Nghe nói ở vùng này dường như có nhiều tiệm họ đặt mua bán cá để dân chúng nơi này mua về nuôi như một thú vui nhẹ nhàng, thanh thản. Từ cái hồ bằng kiếng nước trong vắt, trong một cửa tiệm nằm trên con đường có tên nghe lạ lắm, tôi nhìn qua bên trái, bên phải, ngó trước, ngó sau, đâu đâu tôi cũng thấy cá là cá, những con cá cũng đang lội lòng vòng trong cái hồ kiếng nước trong vắt như tôi, không biết các bạn ấy từ đâu đến và đến đây từ hồi nào ...

Có lẽ bạn muốn biết tôi là loại cá gì , trắng hay đen, sống trong nước ngọt hay nước mặn chứ gì ? Tôi thuộc loai cá trắng, sống trong sông rạch nước ngọt và người dân quê vùng đồng bằng sông Cửu Long thường gọi tên tôi là cá thác lác còm ... Và ở đây, dân địa phương gắn cho loài cá thác lác cái tên chung là "Clown knife". Riêng cá thác lác còm như tôi, họ đặt cái tên Mỹ là "Tiger Clown Knife" . Tôi nghe lóm thóm người ta dịch ra là "lưỡi dao thằng hề" . Nhưng nếu dịch như vậy thì lại thiếu chữ "tiger" là con cọp . Có lẽ vì vóc dáng loài cá thác lác chúng tôi giẹp giẹp, mảnh mai, lại thêm cái bộ dạng nhỏ dần, từ từ tóp lại nơi cái đuôi giống như lưỡi dao, nên người ta gọi như vậy . Còn chữ "tiger" là do loài thác lác còm có những chấm màu đen xếp thành hàng dài cặp bên hông, chạy xuống cuối cái đuôi, trông giống những đốm lấm chấm trên mình con cọp ... Riêng chữ "còm" là do cái lưng của chúng tôi nó cong lại vì bẩm sinh, rồi dân quê Việt Nam mỗi lần giở chà, giăng lưới, giăng câu mà bắt được chúng tôi, người ta gọi gọn lỏn là "cá thác lác còm" để phân biệt với cá thác lác thường, răt một màu vảy bạc.

Bạn mới nhìn dáng hình chúng tôi với những chấm bông như vậy trên nền vảy bạc, chắc là bạn thấy lạ lắm ... Nghe cái tên vừa ghê gớm, vừa hề quá phải không bạn ? Thật ra trong thực tế khi nhìn lại mình, chúng tôi tự thấy mình không hề chút nào ; vì hề là làm cho thiên hạ cười nghiêng ngã, nhưng chúng tôi từ bẩm sinh đến khi lớn vẫn không làm được điều này , đôi lúc còn nghiêm nghị, chững chạc là đằng khác, nhất là trong cách bơi lội hay lúc nghỉ ngơi . Và rồi chúng tôi cũng không cải lại cách đặt tên mới này và cũng chẳng biết làm cách nào để cải khi mọi việc đã đâu vào đấy rồi . Vả lại "nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc" mà !

Mà cơ khổ, đâu phải loài cá thác như chúng tôi bị người Mỹ họ đặt cho cái tên mới đâu

bạn . Ở đây, cá từ vùng Á Châu, Úc Châu hoặc Phi Châu tới, cũng đều bị đặt tên Mỹ như chúng tôi ráo trọi . Ví dụ như cá sặc, cá he, cá chạch, cá nhái, cá trèn, cá rằm, cá heo, cá chài, cá bông, và nhiều giống khác nữa ..., đủ cả, không thiếu loại nào, đều kèm thêm tên mới nghe lạ lắm . Với cá he nghệ ở đây người ta gọi là "tinfoil barbs" ; còn cá nóc, loại cá mà mỗi lần bạn bắt được, nó phình cái bụng ra như cái bong bóng đầy hơi, được gọi là "green spotted puffer" . Cái tên này nghe nó dài quá phải không bạn ? Còn cá rô biển lại có tên "gold severum" nếu cá rô biển màu vàng, hoặc "green severum" nếu cá rô biển màu xanh. Loại cá rô biển màu xanh này thì ôi thôi, ở các sông rạch miền Nam Việt Nam nhiều vô số kể . Hồi đó, còn ở bên nhà, khi lang bạt khắp vùng sông nước miền Tây, chúng tôi gặp loài cá rô biển này nhiều lắm. Các bạn này cũng thích dựa vào chà, vào gốc gáo cặp bờ sông . Và đến mùa nước ngập cũng theo nước lên ruộng, lên đồng như nhiều loài cá khác trên sông rạch ... Dường như, cái luật tự nhiên của trời đất là "cá sống nhờ nước" như loài người sống được là nhờ nước, nhờ đất, nhờ nắng, nhờ mưa, nhờ khí trời . Điều này là một điều chắc chắn, khó có ai vặn bẻ được ... Để có dịp, chúng tôi sẽ kể cho bạn nghe nhiều hơn về loài cá rô biển này, có nhiều câu chuyện lý thú lắm ...

Dòng nước cứ trôi, và bắt nguồn từ dòng nước con sông Cửu Long, vào một buổi chiều mùa mưa nào đó, chúng tôi hè nhau đến xứ lạ này mà không hẹn ngày về ... Thật ra thì dòng tộc cá thác lác nói chung, gồm cả thác lác trắng và thác lác còm, cũng chiếm vào số lượng đông đảo trong số các loài cá nước ngọt . Dù không nhiều bằng cá linh, cá sặc nhưng chúng tôi ở vào hạng cá bổi, nên cũng nhiều so với nhiều giống cá đồng loại trong vùng . Đời sống chúng tôi là những kẻ lang bạt kỳ hồ, rày đây mai đó, không nhất định một bến nước nào . Lúc thì ghé lại một đống chà chất trên sông cái hay rạch ngòi ; lúc thì dựa vào mấy gốc gáo, gốc bần cặp mé sông có nhiều rễ phụ như những căn nhà trọ lý tưởng cho kẻ giang hồ ; lúc thì lên ruộng, lên lung, nương náu vào những cánh rừng rong rêu đủ loại, những vạt mã đề chìm khuất dưới mặt nước trong leo lẻo, như một kỳ nghĩ hè vào mùa nước lụt hàng năm ... Chúng tôi theo nước lấy bước lãng du làm niềm thích thú . Nước tới đâu, cá thác lác tới đó mà ! Theo người chủ tiệm bán cá, họ giới thiệu với khách hàng là nguồn gốc chúng tôi ở tận bên Thái Lan ... Tôi không chối cải về điều này làm gì , vì thực sự tôi vốn sống ở trong dòng sông Cửu Long mà thôi, chẳng riêng gì Thái Lan . Như bạn biết rồi, con sông Cửu long đâu chỉ riêng của nước Thái Lan hay Cao Miên . Con sông này là tài sản mà trời đất đã ban phát cho loài người đang ngụ cư tại vùng Đông Nam Á này, trong đó có Việt Nam. Chúng tôi nay chu du chỗ này, rồi mai mốt chỗ kia như có lúc tôi đang ở Biển Hồ, rồi có lúc lại xuống Tân Châu, Long Xuyên, Cần Thơ, Cái Côn, Long Mỹ, Vị Thanh vân... vân... Chẳng lẽ mỗi lần ở mỗi nơi như vậy, loài thác lác còm chúng tôi lại bị đổi nguồn gốc, đổi quốc tịch sao ?

Vào một buổi chiều đang lúc tiết đông hàn , trời bên ngoài dường như đang lạnh lắm . Gió lùa qua những tàn cây gần nhà nghe rào rào ... Chúng tôi đang ở trong một cái hồ nhỏ, nước vừa phải, không sâu, không cạn . Cùng với hai chúng tôi, còn có hai chị rắn lạ, mà ở đây, người chủ tiệm gọi là cá . Cá gì mà lạ quá bạn ơi ! Rắn rõ ràng với hai con mắt hột cà na, với cái đầu hình tam giác, với những chiếc vảy sần sùi , vậy mà người ta lại gọi cặp rắn này là cá, mới chết ! Không biết ở đồng bằng sông Cửu Long, miệt Long Xuyên, Sa Đéc, Núi Sập có một loại rắn được gọi là "rắn vi cá" có cùng họ hàng gì với loài rắn này hay không nữa ? Nhưng có một điều là ở các nơi vừa kể, người dân quê nơi ấy vẫn gọi rắn là rắn, không ai gọi rắn là cá bao giờ . Dù sao, hai chị rắn này coi vậy mà hiền, không cắn mổ gì chúng tôi trong suốt thời gian chúng tôi bị rộng chung một hồ nước nhỏ hẹp . Thế cũng là một điều may ! Nếu thực sự, hai chị rắn này có nộc độc và hung ác, hai chị em thác lác còm chúng tôi chắc là đi đứt từ khuya rồi, chứ chẳng chơi !!!

Chợt trong lúc chợ chiều vắng ngắt , bỗng tôi nghe tiếng nói chào của vài khách hàng người Á Châu, nghe họ nói chuyện với nhau, sao chúng tôi nghe giọng nói hơi quen quen . Một người đàn ông ốm yếu, dù ông mặc bên ngoài chiếc áo khoác mùa Đông nơi này rộng thùng thình mà trông ông vẫn ốm và gầy . Với mái tóc hoa răm, với khuôn mặt xương xương phảng phất phận đời nhiều khắc khổ, với đôi mắt tròng đen thì ít nhưng sâu hun hút, ông đứng lặng nhìn chúng tôi một hồi thật lâu . Ông không nói gì, nhưng chúng tôi biết ông đang lựa chọn một giống cá mà ông đang đi tìm . Có người lạ đứng bên hồ cá, chúng tôi cũng lo lắng mà nằm êm re trong một góc có vài nhánh rong đuôi chồn ... Sau một hồi đi lòng vòng quan sát các hồ cá trưng bày khắp tiệm, người đàn ông ốm yếu trở lại đứng gần bên hồ cá chúng tôi đang ngụ, tiếp tục chăm chăm nhìn tôi một lúc lâu lắm ... Chúng tôi thấy chiều nay sao hơi lạ , lại có người lạ cứ nhìn mình hoài , nên hai chúng tôi cứ nằm êm ru như muốn lẫn trốn đôi mắt sâu hun hút của người đàn ông gầy guộc ...

Thế rồi, không biết giữa người bán hàng và khách, họ trao đổi với nhau về điều gì, nhưng chúng tôi được người đàn bà Mỹ vớt chúng tôi ra bằng cái vợt lưới ni lon và đựng riêng mỗi đứa một bịt ni lon với một ít nước, rồi họ bơm không khí vào để chúng tôi thở . Ở trên sông dài mênh mông quen rồi, con sông Cửu Long dài tới 4200 cây số đó mà, chúng tôi thấy đời mình đang có một dòng sông rộng thênh thang, làm sao người ta có thể bắt mình được . Vậy mà rồi chúng tôi lại bị di chuyển đến cái hồ bằng kiếng nhỏ nơi tiệm cá này . Tuy nhỏ chật đó, nhưng biết làm sao hơn khi đời mình phải xa con nước quen quen ngọt mát từ độ nào . Tưởng vậy rồi yên bề . Có ai ngờ bây giờ chúng tôi lại phải chui vào cái bọc nilon nhỏ xíu với một chút nước vừa đủ để thở . Làm sao biết được điều bất trắc trên đường đời, phải hông bạn ? Chúng tôi cũng đành cam phận và nằm êm ru trong túi ni lon nhỏ đó, để thử rồi xem cuộc đời mình sau này sẽ ra sao . Cứ nuôi hy vọng và hy vọng . Có ai biết ngày mai về thân phận mình và có ai không nhớ lại dòng sông xưa nơi mình đã tung tăng bơi lội bao giờ !?!

Khi đến quầy tính tiền, người thu ngân mới dặn người đàn ông gầy về cách dưỡng nuôi chúng tôi . Người ấy giảng cho người đàn ông gầy về cách thả tôi vô hồ nước lạ, rồi còn dặn cách cho chúng tôi ăn . Họ nói rằng loài cá "lưỡi dao thằng hề" này ăn dữ lắm . Có lần họ qua Macao trong một chuyến nghĩ Hè, họ đã gặp một con "lưỡi dao thằng hề " lớn lắm, dài tới ba mươi sáu inch . Nghe lóm thóm như vậy, chúng tôi không biết ba mươi sáu inch là bao nhiêu tấc, bao nhiêu phân của vùng sông nước Cửu Long thường dùng . Kể cũng lạ đời bạn ạ, ở đây cái gì cũng không giống hồi còn bên nhà . Tới cái phép đo lường, người ta cũng tính thành những đơn vị nghe nó lạ lắm . Ngay cả món ăn mà người bán cá họ dặn người đàn ông gầy còm là chúng tôi thích ăn loại trùn chỉ cũng là món lạ . Vì từ thuở mới nở cho tới khi biết bơi, biết lội mạnh giỏi, loài cá thác lác chúng tôi thích nhứt là món tép rong, tép bạc . Nếu bạn muốn câu chúng tôi, cách tốt nhất là bạn móc vào lưỡi câu một con tép rong . Sau đó bạn tìm trong đống chà, chỗ nào trống trải, không bị lục bình che khuất, rồi bạn thả nhợ câu có gắn cục chì hình nón vừa bằng ngón tay, cách lưỡi câu vài tấc, vào cái khoảng trống đó . Nhờ nhợ câu gắn cục chì nên lưỡi câu chìm nhanh và không bị nước cuốn trôi . Miếng mồi tép rong chấp chới mời gọi sự thèm thuồng của nhiều loại cá chung quanh . Bạn ngồi chơi một lát . Nếu thích, bạn vấn một điếu thuốc bánh, rồi bật cái hộp quẹt đá mồi điếu thuốc rê cháy lên và hít vài hơi cho nó đã mà nuôi hy vọng cá ăn câu . Khi chiếc phao nhỏ lay động nhẹ và rồi bị nhận chìm xuống khỏi mặt nước là điềm báo với bạn chúng tôi đã nuốt miếng mồi tép rong vào miệng rồi . Nhanh lắm ! Bạn không phải nóng ruột ngồi chờ lâu ; có khi chưa tàn nửa điếu thuốc là cá ăn câu rồi . Và bạn chỉ còn cách giựt cần câu lên . Một trong những anh chàng thác lác ham ăn đã mắc tòng teng ở lưỡi câu . Nhưng nếu bạn móc mồi trùn, có lẽ bạn phải ngồi chờ lâu lắm vì trùn thì tanh và không hấp dẫn như người bán cá họ căn dặn bạn . Mà trùn chỉ nữa, mới chết ! Thường thường, trùn nhỏ như sợi chỉ người nhà quê gọi là trùn chỉ . Và có lẽ chỉ có loài cá thia thia là thích ăn loại trùn chỉ này hơn bất cứ loại mồi nào . Chẳng qua, người buôn bán nghề cá này họ có tay nghề chuốt ngót đẩy đưa dữ lắm . Vì nếu bạn tin lời, họ sẽ vừa bán được cá, vừa bán được mồi, chỉ có người mua là bị thiệt . Chúng tôi nằm trong túi nilon nhỏ xíu mà buồn cười và cũng không muốn ý kiến, ý cò gì . Vả lại, cũng may là người đàn ông gầy không thích mua trùn, nên hai chúng tôi cũng yên trong bụng là họ không mất tiền oan uổng ...

Nghe đâu, mỗi đứa chúng tôi được cửa tiệm này họ bán tới mười lăm đô la . Người đàn ông gầy còm móc cái bớp mòn lẵng lấy ra ba chục đô trả tiền cho hai chị em chúng tôi đem về nuôi . Nằm trong túi ni lon mà ngán ngẫm giá cả cá nuôi bên này . Hồi còn trên sông nước Cửu Long, loài cá thác lác chúng tôi rẻ mạt . Ngư dân vùng này bán chúng tôi bằng cân, bằng ký hoặc có khi tới mùa giở chà đông ken, dân quê ở đây còn bán cá bằng thùng, bằng gịa ... Nếu các người nghèo làm nghề cá ở dọc hai bên bờ Cửu Long mà gặp cá có giá như ở đây, chắc gì dân ở đây lại sướng hơn, giàu hơn họ .

Quả thật, bên này sông so với bên kia sông đã khác, nói gì bên này bờ Thái Bình Dương so với bên kia bờ Thái Bình Dương, phải hông bạn ? Chỉ có điều là sanh không đúng lúc và ở không nhằm nơi nên có người sang kẻ hèn, có người giàu kẻ nghèo, có người giỏi kẻ dở ... vậy thôi ! Thật khó mà lượng định cái hơn cái thiệt khi dòng sống không cùng chảy một mạch giống nhau ...

Nằm trong bọc ni lon đã chật ních mà còn bị ông chủ tiệm cho vào một cái bọc bằng giấy dầu nữa, nên tối thui , nên chúng tôi không thấy gì thêm . Với một lượng nước quá ít, chỉ vừa đủ con cá nằm êm, nên chúng tôi cũng nằm êm. Mà thật ra, có lội đi đâu được mà tung tăng lội tới lội lui cho nó thêm phiền ...

Trong bóng đêm tối như mực, chúng tôi mới nhớ lại câu chuyện hồi đời xa xưa, cuộc đời của Trang Tử rất nghèo, gần như cơ hàn. Có bận, Trang Tử qua bên nhà Giám Hà Hầu vay lúa, nhưng bị Giám Hà Hầu nói :"Tôi có cái ấp sắp nộp tiền lúa . Tôi sẽ giúp ông trăm lượng. Có được không ?"

Trang Tử giận, bèn nói : "Hôm qua, khi Châu đến đây giữa đường nghe có tiếng kêu . Ngảnh lại trông, thì thấy một con cá đang vùng vẫy trong cái vết bánh xe .

Châu tôi hỏi :"Cá đến đây làm gì ?" .

Cá nói :"Tôi là thủy thần ở biển Đông, ông có thể giúp tôi một tô nước để cứu tôi không ? " Châu tôi nói :" Để tôi qua chơi bên phía Nam nước Ngô, nước Việt rồi khi về, tôi sẽ lấy nước Tây Giang về đón người . Có được không ? "

Cá giận nói :" Tôi đang cần nước, ông chỉ cho tôi được một ít là đủ sống . Nay nói như ông, đợi đến lúc ông về thì đến hàng cá khô, thấy tôi nơi ấy ."(1)

Nhớ con cá thần đời xưa , rồi ngẫm lại mình bây giờ chỉ là loài cá bổi, chúng tôi không dám hỏi han gì thêm mà đành nằm trong đêm tối mịt mù ...

Dường như con đường vắng quá và xa lắc , nên chiếc xe chạy nhanh vùn vụt . Chốc chốc cái bọc ni lon lại lắc lư như thuyền gặp sóng, vì vậy mà chúng tôi cũng phải lắc lư theo cái bọc nước chòng chành ... Trời vẫn tối một màu đen ... Chúng tôi không suy nghĩ gì thêm khi nghe tiếng bánh xe lăn rào rào trên đường và tự nhủ thầm "cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần tới đâu", vì nghĩ ngợi lung tung quá cũng chẳng được gì trong lúc này . Hơn nữa, người đàn ông gầy gò này có lẽ cũng cơ cực lắm và dám bỏ tiền ra nhiều quá để mua mình, chắc không ai nở bỏ mình chết khô như con cá thần mắc cạn giữa đường gặp Trang Tử, nên chúng tôi cũng tạm yên bụng.

Xe chạy một đỗi nữa, bọc ni lon nước lại chòng chành về phía tay trái . Chúng tôi mường tượng chiếc xe đang quẹo cái cua về phía tay trái hơi gắt một chút . Khoảng chừng năm phút sau, chiếc xe ngừng hẳn lại . Tiếng người nói chuyện, tiếng mở cửa xe và cái bọc ni lon được đựng trong túi giấy dầu xách ngược lên làm chúng tôi cũng phải đổi vị thế từ nằm dài theo bọc nilon giờ phải xốc mình theo chiều thẳng đứng . Trời vẫn tối mịt vì cái bọc giấy dầu làm chúng tôi chẳng trông thấy gì bên ngoài . Chắc trời bên ngoài rất lạnh nên nước trong bọc nilon lạnh hơn hồi trong tiệm bán cá . Tiếng chìa khóa mở cửa khua nhẹ và người đàn ông gầy bậc công tắc đèn . Cái bọc nilon được lấy ra khỏi bọc giấy dầu . Sau mấy tiếng đồng hồ ở trong bóng tối, giờ nhận được ánh sáng đèn điện sáng choang, nên đôi mắt chúng tôi đứa nào cũng chóa lòa một màu trắng đục lờ mờ ...

Người đàn ông gầy làm y theo lời người bán cá dặn . Ông bỏ cái bọc nilon vào trong hồ có chứa nước sẵn . Có lẽ nước trong hồ ấm hơn, nên từ từ chúng tôi nghe nước trong bọc nilon ấm lại . Và độ khoảng chừng mười phút sau, người đàn ông gầy bắt đầu mở túi nilon thả chúng tôi ra cái hồ nước này . Từ trong cái bọc nilon nhỏ xíu chuyển sang cái hồ rộng hơn, chúng tôi thấy đỡ ngộp đôi chút . Đi đường xa hơi mệt, vả lại cảnh vật còn quá lạ, nên chúng tôi còn lạ nước lạ cái lắm, hai chị em chỉ dám nằm êm trong một góc hồ và thở cầm chừng lấy lại sức lực ...

Thời giờ rồi cũng trôi qua . Chúng tôi quen dần với nước trong hồ . Nhìn chung quanh, quan sát kỹ, chúng tôi mới nhận ra dưới đáy hồ là một lớp đá trứng, lớn nhỏ đủ cỡ, loại đá vụn giống như đá vùng núi Sập, núi Sam nằm rải rác dưới chưn núi . Nơi gốc này, chỗ kia, vài bụi rong đuôi chồn được buộc vào cọng dây thun với miếng chì mỏng cho rong chìm duới đáy hồ, đang đong đưa theo dòng nước chảy . Ngoài ra còn có bốn năm bụi bông súng rể non mọc ra tua tủa, với cọng bông súng non mảnh mai giống như sợi chỉ vượt lên mặt nước hồ, mang theo chiếc lá non mượt bằng đồng tiền điếu đời xưa . Mà ở đây lạ lắm nhe bạn, loại bông súng này, dân bản xứ gọi nó cái tên cũng vui vui là "ba-na-na". Có lẽ họ gọi như vậy tại vì chùm rễ bông súng từ gốc bung ra giống như những trái chuối trong một nải chuối . Ở đây, nghĩ cũng vui . Cái gì cũng có tên mới ráo trọi .

Chúng tôi cũng nghe tiếng nước chảy róc rách từ một cái máy bôm nước tự động đang nằm cặp mé sau cái hồ, bên cạnh tấm bình phông làm nền cho hồ cá . Tấm bình phông này là một cách làm ảo hóa cảnh đời bằng những hình vẽ cảnh vật, rong rêu giống như thật ngoài đồng ruộng. Chúng tôi lội lòng vòng hoài nhưng không đụng tới được mấy bụi rong, bụi cỏ trong tấm bình phông . Sống với ảo ảnh nhiều lúc mình cũng chán phải hông bạn ? Nhưng biết làm sao hơn khi đời sống người ta phải cần có những điều được gọi là nghệ thuật !!! Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận ra một cái lò sưởi bằng điện gắn bên thềm hồ, lúc tắt, lúc mở với ánh lửa đỏ bập bùng . Bên cạnh đó là cái thủy kế để canh chừng nhiệt độ nước trong hồ . Vì như bạn biết, loại cá thác lác còm chúng tôi sống trong vùng nước ấm, mà thời tiết xứ này lạnh quá, người ta sợ chúng tôi chết vì nước quá lạnh, nên mới trang bị đủ thứ như vậy . Nhận ra điều này, rồi nhớ lại con cá thần mắc cạn lúc gặp Trang Tử, chúng tôi thấy mình còn hên .

Súy chút nữa chúng tôi quên kể cho bạn nghe về cái hồ mà chúng tôi đang ở lớn nhỏ bao nhiêu . Vì đơn vị đo lường ở đây lạ quá, nên sau khi lội lòng vòng, chúng tôi nhận ra cái hồ này cũng khá rộng, nhưng không biết rõ là mấy "in", mấy "phít" . Từ dưới đáy hồ chúng tôi phải nín hơi chừng nửa giây mới lên ngốp trên mặt nước một lần để thở . Mỗi lần thở như vậy, cá thác lác còm chúng tôi thường để lại một bong bóng nước bằng ngón tay . Vài giây sau, bong bóng nước này lại tan ra hoà vào nước trong hồ . Và từ vách hồ đằng này lội qua tới vách hồ đằng kia cũng phải mất một hơi dài lội thẳng đuôi mới tới . Cái hồ lớn nhỏ thế nào là do bạn lượng thử giùm, chúng tôi không đo đạc được . Riêng chúng tôi, thế cũng đã quá đủ cho một đời sống cá chậu rồi . Hai chị em chúng tôi không dám mơ mộng gì hơn . Theo thành ngữ nhà quê "cây giao nhánh, cá giao đuôi", kể ra được như vầy là quý hiếm lắm rồi .

Từ ngày về đây, như một thời dụng biểu không thay đổi, người đàn ông gầy bây giờ đã thực sự là người chủ chăm sóc dưỡng nuôi chúng tôi . Xin được gọi ông là ông Hai vì nghe đâu mấy người chung quanh vùng này cùng gọi ông bằng ông Hai như vậy . ông Hai thường ngồi hằng giờ trên chiếc ghế cách hồ vài ba thước nhìn chúng tôi với vẻ mặt trầm ngâm . Gương mặt ông dường như suy nghĩ nhiều nên đôi mày có vài lằn nhăn hằn đậm thấy rõ ... Ngồi như vậy một đỗi, ông Hai lại gần vách hồ, đưa bàn tay gầy guộc xoa xoa ngoài vách kiếng, ngay chỗ chúng tôi đang dựa vào vách, như vuốt ve âu yếm lắm . Khó mà biết được ông đang suy nghĩ về điều gì nhưng chắc chắn ông đang nghĩ ngợi về chuyện đời, chuyện cá . Có hôm ông Hai đến ngồi gần bên vách hồ, nước trong leo lẻo, mặt nhìn thấy mặt , chúng tôi bèn bạo dạn xin hỏi nhỏ ông :

"Ông Hai ơi, trong tiệm cá có nhiều loại cá quý, mắt tiền, lại đẹp nữa sao ông không mua họ về nuôi mà ông lại chọn hai chị em cá thác còm chúng cháu, vậy ông ?"

Ông chủ tôi vẫn đôi mắt sâu hun hút, lấy bàn tay gầy xoa xoa mặt hồ, không trả lời câu hỏi, mà chỉ lấy cái vợt lưới vớt cho chúng tôi hai con cá nhỏ làm mồi, mỗi đứa một con lót bụng. Có bận, trong một lần kể chuyện với vài người bạn khi đến chơi, ông Hai có tâm sự với người bạn vong niên của ông "mình là dân dã quê mùa, cầu nuôi cá thác lác còm, cá sặt chứ làm sao dám nuôi cá rồng, cá phụng là những loại cá quý, mắt tiền."

Thật ra, không hẳn chỉ có việc cá mắt hay cá rẻ . Mà dường như mỗi người với từng tuổi đến tóc hoa răm này, khi người ta chọn lựa một điều gì đều mang một nỗi niềm riêng tư, chứ chẳng đơn giản là giá trị đặt trên giá mua của mỗi con cá ở tiệm ... Có lần, chúng tôi nghe lóm thóm giữa hai người, ông Hai và người bạn vong niên của ông, đang nói về cái ý nghĩa của việc chọn loài cá thác lác còm để nuôi trong hồ kiếng . Người bạn của ông thì cho rằng người ấy thích cái bộ dạng bơi lội của chúng tôi, nhất là cái kỳ dưới vờn vờn lượn thành đường cong vợn sóng hình sin uyển chuyển. Những cách lội ngang, lội dọc rồi lên ngốp để thở khi cá thác lác còm chúng tôi nhả ra một bụm nước như cái bong bóng nhỏ là những cử động làm mê hoặc người bạn vong niên của ông Hai dữ lắm . Ông này còn cho rằng chúng tôi có một nội lực tiềm ẩn trong từng cái vi, cái kỳ mỗi lần bơi bơi, quạt quạt như đang kéo mình về một thực tại đầy nghị lực trong đời sống thường ngày. Và vì vậy mà ông mê . Người ấy cứ ngồi nhìn chúng tôi một đỗi rất chăm chú, rồi nói với ông Hai :

"Hai con cá của ông Hai vui ."

Ông Hai nghe người bạn vong niên của mình khen cá vui, ông mới chợt nhớ lại Trang Tử có lần cùng Huệ Tử đứng chơi trên cầu sông Hào, thấy đàn cá lội, Trang Tử mới buộc miệng khen :"Đàn cá xanh bơi lội thung dung . Cá vui đó !"

Huệ Tử bèn hỏi :

"Ông không phải là cá, sao ông biết cá vui ?"

Trang Tử nói :

" Ông không phải tôi, sao biết tôi không biết ...!"

Huệ Tử nói :

"Tôi không phải ông, nên không thể biết được ông; còn ông không phải cá, ông cũng hẳn không sao biết được cái vui của cá ."

Trang Tử nói :

"Xin xét lại câu hỏi đầu . Ông hỏi tôi làm sao biết được cá vui ... Đã biết là tôi biết nên ông mới hỏi "làm sao mà biết ?" . Thì đây này, làm như vầy : Tôi đứng trên cầu sông Hào mà biết cá vui đó!"(2)

Ông Hai, trầm tư ngẫm nghĩ, nhưng không hỏi người bạn vong niên "sao lại biết cá vui ?" như Huệ Tử đã hỏi Trang Tử . Nhưng có một bận, ông Hai lại hỏi người bạn già khác cũng đang bắt đầu mê nuôi cá, có tên ngoài đời là anh Bảy Cù Lao . Người này nghe đâu quê quán ở cù lao Lợi Quang, quanh năm sống với làng quê rợp bóng dừa xanh mát rượi, rồi vì thời cuộc cũng trôi giạt tới xứ này . Ông Hai hỏi như thế này :

"Anh Bảy có biết lúc nào cá vui, lúc nào cá buồn không ?"

Ông Bảy trả lời :"Biết " .

Rồi ông Bảy giải nghĩa tiếp :

"Khi mình vui thì cá vui . Khi mình buồn thì cá buồn ."

Ông Hai nghe qua câu trả lời của ông Bảy, trong lòng mừng quá và phục ông Bảy sát đất . Ông Hai phục là phục cái từng trải qua mấy mươi năm trời sống chìm nổi với đời của người bạn già, nay cũng tròm trèm 65 tuổi rồi, mà vẫn coi cuộc đời như trò chơi, không màng thiệt hơn, lời lỗ khi phải đánh đổi nhiều điều để có ngày nay . Và cũng chính nhờ cái kinh nghiệm từng trải đó mà ông Bảy đã đưa ra lời nhận xét thật là chí lý . Chẳng phải thế, sao Nguyễn Du lại nói :"Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ !" .

Ông Hai có lần hỏi ông Bảy :

"Anh thích nuôi loại cá nào ?"

Ông Bảy nói :

"Cá tai tượng."

Ông Hai lại hỏi :

" Sao anh thích nuôi cá tai tượng ?"

Ông Bảy nói :

"Tôi nuôi cá tai tượng vì tôi nhớ Ba Má tôi ."

Rồi ông kể thêm, là hồi xưa, khi ông còn rất nhỏ, khoảng 11 tuổi, ba ông có nuôi một con cá tai tượng trong cái hồ xây bằng xi măng khá lớn . Hồi đó nuôi bằng nước mưa, chứ không như bây giờ ở đây nuôi bằng nước phông tên, phải khử thuốc tẩy . Đến khi giặc giả nổi lên quá, gia đình ông phải rời cù lao Lợi Quang tản cư qua chợ Gò Công . Và má ông bảo phải mang theo hồ cá tai tượng cho ba ông vui vì ba ông thương con cá này lắm . Lúc bấy giờ con cá lớn lắm, có đến sáu, bảy ký lô . Khi è ạch bảy, tám người khiêng được hồ xi măng đem xuống ghe rồi chở qua Gò Công, ba ông Bảy vui lắm khi nhìn thấy lại con cá tai tượng mà ông cụ đã nuôi mười mấy năm trời . Nhưng rồi vì nơi chợ búa lạ, hồ cá để ngoài hàng ba, gợi lòng tham người đời qua lại và con cá của ba ông Bảy bị kẻ trộm rình bắt mất tiêu . Từ đó ba ông Bảy buồn lắm. Ông Bảy không biết phải làm sao . Vả lại lúc còn trẻ, ông Bảy phải đi đây đi đó vì đời lính tráng nên cũng ít để ý cái buồn của cha mẹ già . Bây giờ khi ông ngoài lục tuần, ngồi một mình, nhớ lại cha mẹ già không còn, nên ông muốn nuôi cá tai tượng là vì cái lòng nhớ thương cha mẹ nó ngấm trong lòng của một người con giàu lòng hiếu hạnh qua mấy mươi năm trường . Thật đáng quý thay !

Ông Hai, có lần cũng hỏi người bạn vong niên :

"Ngoài cái cách lội uốn lượn, anh còn thích nuôi cá thác lác còm là vì lý do gì nữa ? "

Người bạn vong niên suy nghĩ một chập rồi mới nói ra :

"Tôi nhớ cá thác lác này quen lắm ông Hai , mà lâu rồi tôi không gặp . Nguyên do là hồi đó, tôi bị cải tạo ở trại Nhơn Hoà Lập, thuộc vùng Mỹ Tho, ngày nào tôi cũng giăng lưới được vài ba con cá thác . Nhờ vậy mà tôi sống qua ngày . Thành ra, tôi thích nó vì một đoạn đời đã qua như vậy ở Nhơn Hoà Lập ! Cá thác lác đã cứu mình ! "

Còn ông Hai thì sao ? Người bạn ông hỏi lại . Ông Hai nhỏ nhẹ giải thích :

"Hồi trước, tôi đã có hơn bốn năm dài, ngày nào tôi cũng lặn lội trên con sông Cái Lớn để giở chà bắt cá , mà loài thác lác còm này chiếm phần lớn trong số cá bắt được . Những con cá thác lác được người đời coi là loại cá bổi đã giúp tôi và các bạn của tôi sống lây lất được tới ngày về quê . Và bây giờ, tình cờ bắt gặp loại cá thác lác này đang có mặt ở đây như gặp lại người thân quen, nên những kỷ niệm cũ đang tràn về và tôi muốn giữ nó ."

Nghe ông Hai và người bạn vong niên của ông nói chuyện qua lại, chúng tôi mới biết rằng mình được chọn là vì loài cá thác lác còm của mình chính là cái bóng của những đoạn đời đã qua rồi của những người già lang bạt chốn này . Cái bóng không ai bắt được nhưng cái bóng rất chung thủy với mỗi người . Cái bóng luôn ngã theo tuổi đời, có khi xiên xiên, có khi đứng khuất bên hông, sau lưng hay hiện ra trước mặt nhưng mỗi người luôn luôn có mang theo cái bóng bên mình, không buông ra được cho đến khi nhắm mắt giả từ cuộc đời !

Bạn ơi, chúng tôi về đây coi vậy mà cũng đã qua bốn tuần lễ rồi . Bốn tuần lễ trong cái hồ kiếng rộng, chúng tôi thấy đời mình cũng thanh thản hơn những nơi mình chui rút trong các tiệm cá vùng "Rốt- Ai- Land". Ông Hai sáng nào cũng đi làm sớm, nhưng trước khi rời khỏi nhà, ông không quên lại nhìn chúng tôi một bận . Ông coi lại thuỷ nhiệt kế để xem nhiệt độ nước trong hồ lên cao hoặc xuống thấp mà điều chỉnh cho vừa . Ông cho chúng tôi vài con mồi . Ông xoa xoa bàn tay gầy guộc lên mặt kiếng nơi chúng tôi đang nằm . Chúng tôi thấy đôi mắt sâu hun hút của ông như sáng lên . Và ông rời nhà vào lúc trời bên ngoài còn lờ mờ, chưa sáng hẳn . Đến buổi chiều về, chưa kịp thay áo quần, ông lại bên hồ cá và coi lại thuỷ nhiệt kế, rồi vớt vài con cá mồi cho hai chúng tôi . Sau đó, ông ngồi nhìn hai chị em tôi lội lòng vòng một đỗi rồi mới đi thay áo quần ngơi nghỉ .

Dường như đó là một thói quen được ông Hai lập đi, lập lại mỗi ngày . Chúng tôi lúc nào cũng thấy gương mặt ông đầy nghĩ ngợi, trầm ngâm khi ông ngồi từ cái ghế nệm nhìn ngắm chúng tôi nằm yên hoặc bơi lội vòng quanh những bụi bông súng, bụi rong, bụi cỏ ... Chắc là ông đang nhớ cái bóng của mình, cái bóng hồi cách nay có đến hơn hai mươi năm. Mà đâu chỉ có hai chị em thác lác còm chúng tôi làm ông nhớ lại một đoạn đời . Còn những cây cảnh khác trong căn phòng này đã có mặt từ hồi nào rồi, lúc chúng tôi chưa tới, có lẽ các bạn ấy cũng là vật hộ mệnh của ông Hai . Nhìn bên tay mặt cái hồ kiếng, chúng tôi thấy một khóm Tigôn, một khóm lài bông trắng thơm rực, một bụi cỏ Chi đang trổ bông, một khóm trầu bà xanh với những chiếc lá non xanh mướt . Về bên tay trái là một bụi trường sanh sum sê tươi tốt , cao tới trần nhà . Rồi còn có mấy bức tranh sơn mài Mai, Lan, Cúc, Trúc loại nhỏ nhứt treo trên tường bên trên khóm Quỳnh Hoa . Đặc biệt khóm Quynh Hoa năm này nghe ông Hai kể lại với người bạn vong niên của ông là đã trổ hai lần bông vào mùa Thu vừa rồi. Có lần, ông Hai và ngưòi bạn vong niên của ông ngồi uống trà, xem cá lội , ông Hai đã kể lại sự tích loài hoa Quỳnh này, nên chúng tôi nghe lóm thóm tiếng được tiếng mất như sau :

"Hồi đời Tùy Đường bên Tàu, có một công chúa tên là Quỳnh Hoa công chúa . Công chúa thuộc về hạng đẹp nhất của nước Tàu thời bấy giờ . Công chúa đã phải kháng cự lại ông vua anh dâm loàn là Tùy Dạng Đế mà phải bị đày ra đảo Dương Châu, rồi sau đó uất ức mà chết . Hồn thơm của công chúa kết tinh ra giống hoa Quỳnh.

Tùy Dạng Đế cũng không buông tha, bèn trẩy hội ra Dương Châu để xem hoa Quỳnh nở . Nhưng hồn trinh của hoa thần vì không muốn cho mắt của kẻ bạo chúa được nhìn mình, nên Quỳnh Hoa đã nở sớm từ đêm hôm trước . Khi đoàn tùy tùng với buồm gấm cờ buông của Tùy Dạng Đế ghé bến thì hoa đã tàn rồi, chỉ còn trơ một cành tuyết phủ ."(3)

Nghe xong câu chuyện, chúng tôi mới rõ thêm sự tích Hoa Quỳnh và nghĩ ra một điều là thời nào cũng có những người chính kẻ tà mà cảm thương cho một đời công chúa Quỳnh Hoa trinh tiết .

Chúng tôi cũng nhìn thấy bên bức vách kia là một tấm tranh vẽ phong cảnh một dòng sông với chiếc xuồng câu bên dòng nước đục; một bức tranh khác là con rạch nhỏ uốn cong queo với hàng dừa nghiêng nghiêng bóng mát, hai cô gái quê mặc bộ áo quần bà ba bơi chiếc xuồng ba lá vờn vờn gợn sóng ... Nhìn cảnh vật cây cối chung quanh trong căn phòng hẹp như vậy, chúng tôi mới nhận ra tấm lòng của người chủ nuôi chúng tôi lúc nào cũng muốn ôm quê hương, đồng ruộng vào lòng . Những cây cỏ, rong rêu, hoa lá, dòng sông, con rạch là cả một trời nhớ thương quê hương được thu hẹp lại trong lòng một con người nhà quê vốn chất phác, mộc mạc, quê mùa . Và chúng tôi lại càng yên bụng sống trong hồ nước trong xanh này ...

Mấy hôm nay, trời lạnh hơn . Chúng tôi lại thấy có thêm một hồ cá nhỏ nữa nằm ở một góc nhà . Ông Hai nuôi cá sặt . Có lẽ ông Hai đã nuôi cá sặt âu rồi nhưng chúng tôi mãi lo đời sống mới ở hồ cá mới này nên không để ý và bây giờ mới thấy . Nhìn qua đó, chúng thấy có cả thảy sáu con cá sặt bướm với những chấm đen trên mình vẩy bạc, gần giống những chấm đen trên mình chúng tôi nhưng lại nhỏ hơn ... Có lần ông Hai đến bên hồ lấy bàn tay gầy xoa xoa lên cái bóng chúng tôi bên trong hồ, chúng tôi bèn bạo gan hỏi ông Hai :

" Ông Hai cũng thích nuôi cá sặt nữa !"

Lần này ông trả lời :

"Thích"

Rồi ông lại nói tiếp :

"Cá sặt cũng là cá bổi ."

Đến đây, chúng tôi mới nhớ ra rằng, ông Hai chỉ thích cá bổi thôi, không ham cá quý cá sang gì vì ông nuôi cá là để tìm lại cái bóng nhà quê của chính mình chứ không phải là cách chơi cá kiểng của người dư ăn, dư để . Chúng tôi như mừng ra và lại lội lòng vòng quanh những gốc rong, gốc cỏ trong hồ ra chiều sung sướng lắm .

Mấy hôm nay tuyết lại bắt đầu rơi bên ngoài . Trời lại lạnh hơn . Có người bạn vong niên của ông Hai tới chơi và xem cá lội . Ngồi đối diện bên kia chiếc bàn nhỏ, chúng tôi nghe ông Hai kể cho người bạn của ông nghe là ông vừa mới trở lại sân bay Providence để đưa đứa cháu gái của ông đi du lịch và luôn thể ông nhìn lại dấu chân ông còn in lại ngày ông mới tới xứ lạ này, cũng đã hơn tám năm . Ở đó gợi ông nhớ rất rõ những ngày đầu từ cánh đồng lúa thần nông phải trôi giạt đến xứ này . Dĩ nhiên ông còn nhớ rất rõ những vết phèn dính nơi các móng tay, móng chưn của ông vào những ngày mùa cày sâu cuốc bẩm ... Nghe ông kể mà chúng tôi thấm thía cõi lòng vì chúng tôi cũng đến Rhode Island từ sân bay đó ! Nghĩ lại mà chúng tôi tự thương thân phận đời mình ! Ông Hai còn có cơ hội trở lại để nhớ về một bước chân đời còn in dấu, còn chúng tôi biết đến bao giờ mới có dịp trở lại chốn ấy dù chỉ một lần, nói gì ngày trở lại sông nước Cửu Long !!!

Nhưng dường như trong câu chuyện kể, ông Hai cũng không biểu lộ niềm vui nào trên gương mặt xương xương lấm chấm vài vết đồi mồi . Với đôi mắt sâu hun hút triền miên của ông Hai toát ra một vẻ gì buồn nhớ xa xăm lắm !!! Và chúng tôi chợt hiểu điều so sánh vừa rồi của mình là vô lý . Chúng tôi ân hận vô cùng ! Hai chị em chúng tôi nằm yên nơi gốc một bụi bông súng đang có nhiều rễ non như một cách ăn năn và thì thầm bên nhau : "Nghĩ thân cá chậu mà thương chim lồng !" .

Chúng cháu xin lỗi ông Hai bỏ qua cho những ý nghĩ thô thiển của một loài cá bổi !

Lương Thu Trung
Ngày 01 Tháng 01 năm 2001

-----------------------

Phụ chú :

(1) và (2) Trích Trang Tử Tinh Hoa của Nguyễn Duy Cần .
(3) Xem chuyện "Đoàn Buồm Gấm" trong Truyện Cổ Đông Tây do Mặc Lâm xuất bản, Yểm Yểm Thư Trang phát hành.