Nhà văn Bình-Nguyên Lộc
(7-3-1914 - 7-3-1987)
 

Nguyễn Vy-Khanh

 

Sanh và mất cùng ngày 7 tháng 3, thọ 73 tuổi (1914-1987). Sự nghiệp nhà văn Bình Nguyên Lộc gồm bốn khía cạnh: nhà báo, tiểu thuyết gia, nhà thơ và nhà nghiên cứu tiếng Việt. Bình-Nguyên Lộc là một trong những nhà văn trội bật của dòng văn chương lục tỉnh. Ông còn ký Phong Ngạn và Hồ Văn Huấn.

Bình-Nguyên Lộc từng theo kháng chiến, bỏ về thành, "kháng chiến thành" - bỏ không trở lại làm công chức Kho Bạc cho Pháp, làm báo, ra tuần báo Vui Sống và viết truyện. Sinh trưỡng ở làng Tân Uyên (Biên Hòa), "lục tỉnh" từ bút hiệu và tên nhà xuất bản của ông, Bến Nghé, ông có bài đăng báo từ năm 1943 (truyện Câu Dầm, tuần báo Thanh Niên, Sài Gòn, 1943) và đã nỗi tiếng trước thời 1954 với tập truyện ngắn Nhốt Gió xuất bản năm 1950. Tập truyện và tùy bút đầu tay Hương Gió Đồng Nai viết xong năm 1942 nay chỉ còn dấu vết một vài bài đã đăng báo và tập truyện dài Phù Sa viết dở dang là những gửi gấm tâm sự của ông - ông muốn làm sống lại cuộc Nam tiến vĩ đại của đồng bào Nam Ngãi để mở mang bờ cõi miền lục tỉnh, qua chuyện những người tiên phuông đã khai phá làng Tân Uyên bên bờ sông Đồng Nai cũng là quê hương của ông. Ông nỗi tiếng vì truyện ngắn hơn là tiểu thuyết và tác phẩm của ông gợi lại cảnh vật quê hương, đất nước như ông đã có lần xác nhận : "Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và lòng nhớ nhung tha thiết của tôi với nó, chớ không phải vì ái tình, vì yêu đương tác động..." (1). Chỉ lên Sài Gòn sinh sống, làng Tân Uyên của ông không xa xôi gì mà đã khiến ông nhung nhớ! Thời 1954-1975, ông đã xuất bản các tập truyện Ký Thác (1960), Tâm Trạng Hồng (truyện vui, 1963), Mưa Thu Nhớ Tằm (1965), Tình Đất (1966). Có hai tập bút ký Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình Nguyên Lộc (1966) và Thầm Lặng (1967). Phần còn lại là các tập tiểu thuyết có tính cách bình dân vì phần lớn viết đăng từng kỳ trên các báo, riêng các tựa đề cũng đã nói rõ : Gieo Gió Gặt Bão, Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Nhớ Thương, Nửa Đêm ... Trảng Sụp, Xô Ngã Bức Tường Rêu, Đừng Hỏi Tại Sao, v.v. Vì hoàn cảnh đất nước, ông đã bỏ Tân Uyên định cư ở Lái Thiêu rồi Sài-Gòn, và đến tháng 10-1985, bỏ nước di cư sang Hoa Kỳ, ở Sacramento CA và từ trần tại đó.

 

1. Nhà văn :

 

Truyện dài nổi tiếng nhất của Bình-Nguyên Lộc và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp văn chương của ông là cuốn Đò Dọc đã được giải thưởng văn chương năm 1960. Đò Dọc là bức tranh xã hội miền Đông Nam phần giữa thập niên 1950, những cảnh sống sẽ sớm mất sau đó. Ông bà Nam Thành buôn bán va-li sống nhờ lính Tây thuộc địa, nay Tây thua phải rút khỏi Việt Nam, buôn bán bắt đầu khó thì Sài Gòn lại có giao tranh giữa các giáo phái. Ông bà bèn bỏ Sài Gòn dọn về trang trại - Thái Huyên Trang, ở Thủ Đức gần suối Lồ Ồ. Họ không có lựa chọn khác dù nhà có bốn cô con gái tuổi từ 22 đến 28 đều chưa chồng. Bốn chị em hay đi dạo xóm, dĩ nhiên sẽ có những nhân vật địa phương xuất hiện tán tỉnh làm quen. Những đụng chạm giữa quê và tỉnh:

"Quờn là một công tử nhà quê, hạng người mẫu. Vì ở gần thành phố quá, mặc dầu thành phố ấy chỉ là một quận lỵ, công tử Quờn lại mang thêm một cố tật dĩ nhiên là muốn thành người thành thị. Thành không được, Quờn lai căn một cách dị hợm với những bộ bi-da-ma màu hường, màu xanh lá cây mà cậu mặc mãi từ sáng đến tối, từ trong buồng ra đến quận lỵ. (...) Từ ngày xóm tiếp nhận nữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợlớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đo đỏ trên miệng túi bi-da-ma. Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không khảy vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu. (...) Trong cái lần đầu ấy, thấy Quờn liếc lén mấy chị em, Hoa tấn công ngay:

- Chào cậu hai. Đi dạo mát với chị em tôi chơi, cậu. (...)

Quờn đứng chết sững và ngậm câm, còn hai cô Hoa và Quá thì rũ ra cười; cô Quá cười no rồi nói:

- Hay là cậu mặc áo hường rồi chê áo đen của chị em tôi mà không muốn đi chăng? (...)

 

Một bữa khác, được nói chuyện với mấy chị em Hoa, Quờn sẽ để lộ cái "dốt" :

"Quờn mặc bi-da-ma bằng vải ú màu xanh lá cây, đầu chải brillantine Chợlớn sực nức mùi chanh, cổ đeo giây chuyền vàng khè, tay nặng trịu nào lắc vàng, cà rá vàng và đồng hồ cũng bằng vàng. (...)

- Độ rày cậu làm gì, cậu hai? Hoa lại hỏi.

- Cũng hổng cần làm gì. À tôi có tự túc một bầy gà Huê-kỳ, coi bộ tương lai quá khứ?

Cả bốn chị em đều ngạc nhiên, không hiểu cậu ta nói cái gì mà lại tự túc và có tương lai quá khứ?

- Tự túc là gì cậu? Hương hỏi thật tình.

- Tự túc là nuôi, chớ là gì.

- Vậy hà, còn tương lai quá khứ?

- Tương lai là tương lai, còn quá khứ là quá sá. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói phạm vi. Thù vặt họ nói cá nhân, nghe hay quá khứ.

Hoa và Quả núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt. (...) (XT tb, tr. 72-75).

Vì ở gần đường thiên lý nên hay xảy ra những tai nạn xe cộ và ba trong bốn cô con gái Thái huyên trang sẽ gặp được người ưng ý trong số những thanh niên bị tai nạn xe.

Tập Ký Thác (1960) gồm nhiều truyện ngắn đặc sắc của Bình Nguyên Lộc. Rừng Mắm đưa người đọc trở lại thời khai khẩn miền đất mới. Hồn Ma Cũ, Rung Cây Dừa, Người Tài Xế Điên, vẽ những cảnh đời và nơi chốn đã dần biến mất. Hồn Ma Cũ, Ba Con Cáo, Ba Sao Giữa Trời là những tuyệt tác đầy ngạc nhiên thích thú. "... Hình ảnh uống cà phê bằng dĩa này, như bấm vào nút điện, và cả bộ máy được huy động. Những người của dĩ vãng như hồn ma, lũ lượt kéo qua trước mặt chàng. Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về được trong cảnh náo nhiệt này là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động, âm thanh; tất cả những thứ ấy đủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng" (Hồn Ma Cũ).

Mưa Thu Nhớ Tằm (1965) gồm 16 truyện và một kịch ngắn. Những mảnh đời và lòng người trước những nghịch cảnh và đổi thay của thời gian. Miền Nam sống động qua một số phong tục địa phương và dấu chân thời gian, nhất là qua truyện tuổi già Tre Phải Tàn và Quyển Gia Phổ. Tập truyện Quán Tai Heo có truyện Quán Bên Đường viết về nhà thơ Minh Phẩm trong đó có một bài thơ sau được Phạm Duy phổ nhạc và nhiều người vẫn nghĩ là của Bình Nguyên Lộc.

Toàn bộ tác phẩm của ông gồm trên 1000 truyện ngắn và gần 50 truyện dài nhưng xuất bản chỉ được một phần nhỏ. Một tác phẩm lớn, theo Bình Nguyên Lộc "không bắt buộc phải đề cập tới một vấn đề lớn, mà là một tác phẩm nói được nhiều về một chuyện nhỏ" (2). Cũng theo ông, "văn chương có giúp cho đời sống, đó chỉ là những tiếng thì thầm của một người nói với chính mình" (3). Văn chương ông do đó giản dị như cuộc đời, không cầu kỳ, trau chuốt gọt đẽo. Có những câu cụt ngủn, lừng khừng. Ông hay dùng những chữ như "hay không" ("... kể may mắn hơn liệu có lương thiện được hay không nếu ..." (ĐD tr 233). "Có muốn tiền hay không", "hay có chuyện gì lạ hay không"), hoặc chữ "nầy" ("cảnh khổ nạn ở xóm thuốc nầy", "ai cũng buồn cười cho hoàn cảnh rể ngược đời nầy"). Bình-Nguyên Lộc dùng nhiều tiếng thông dụng hàng ngày như "cái mới khó hiểu / có cái gì lạ nè / thiệt là hết hy vọng / có hay thì thôi,...".

Cốt chuyện nếu có rối rắm thì cũng có giải pháp, lối thoát. Hoà hoãn, như đoạn cuối Đò Dọc, đám trẻ trở về Sài Gòn, còn hai ông bà Nam Thành ở lại Thái Huyên Trang bên suối Lồ-Ồ hợp với tuổi già. Lại nhiều khi bất ngờ và thích thú chứ không bi đát. Tâm lý nhân vật ít được đào sâu. Trong suốt cuốn truyện dài Đò Dọc chỉ có nhân vật ông Nam Thành là có một tâm lý linh hoạt, vì có thể cũng là tâm sự và dáng dấp của ông.

Nhìn chung, Bình Nguyên Lộc thiên về phân tích tâm lý, về đời sống con người ở miền Đông và ở thị thành. Hoặc cả hai với những nhân vật từ thôn quê lên tỉnh thành. Ông vẫn thiên vị cho rằng con người miền Đông "văn minh" hơn con người ở miền dưới, miền Tây - nơi lòng người chưa thuần và chưa có truyền thống (ĐD tr 67). Người thành thị phải thích ứng đời sống mới ở thôn quê như trong Đò Dọc, nhà quê lên tỉnh khó thích ứng với đời sống mới như trong Hoa Hậu Bồ Đào, Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương, v.v. Nửa quê nửa tỉnh! Nhất là buổi đầu!

Bình-Nguyên Lộc cũng để tâm lo cho con người ở chốn thị thành, vào thời văn minh vật chất tràn ngập sau thế chiến thứ hai. Con người biến tính,mất căn bản, bê trễ chuyện gia đình (Gieo Gió Gặt Bão) thành ra hư hỏng, vô trách nhiệm với xã hội (Nhện Chờ Mối Ai, Nửa Đêm Trảng Sụp).

Các nhân vật của Bình Nguyên Lộc là những con người bình thường. Các nhân vật nam của ông hơi dễ dãi, không rõ nét "nam" như các người nam trong tiểu thuyết của Sơn Nam. Thường tâm lý các nhân vật của Bình-Nguyên Lộc đều tốt đẹp: trong Đò Dọc có ông bà Nam Thành, bà phủ mẹ của Long, Long nghệ sĩ nhưng khi cần cũng biết bổn phận, hay cô Hương lớn nhất nhà nhưng yên lặng đến dửng dưng, chấp nhận hoàn cảnh, không hề đau khổ. Cô Hoa có hơi lắm lời theo lẻo, đánh chị sứt mặt, nhưng lại có lòng : "... điều đó tuy bậy, nhưng những kẻ may mắn hơn liệu có lương thiện được hay không nếu đứng vào địa vị họ?" (ĐD, tr. 233)!

Chuyện tình Bình Nguyên Lộc ít éo le, thường là đôn hậu, nhẹ nhàng! Không khí tiểu thuyết của ông vui, lạc quan và ông nhiều khi lạm dụng nhiều đối thoại hoặc sa đà đi vào lãnh vực nghiên cứu, lý luận.

Ông có tài quan sát, nhất là về thảo mộc. Rừng cây dầu lông vùng Tân Uyên trong Nhốt Gió (1950) : "Nếu cây trắc giống như người già háp, lâu lớn, cằn cỗi, cây sao giống một người mạnh mẽ vừa tầm thì cây dầu giống một anh cao lỏng khỏng, y phục lại đơn sơ. (...) Rừng dầu thưa, thân dầu suôn đuồn đuột vươn mình lên cao mãi tận đâu. (...) Trên lớp lá dầu tròn, xòe ra như cánh quạt bông dầu nhuộm hồng cả khu rừng. Bông dầu lông đỏ lợt, lấm tấm những điểm trắng rất đẹp. Họ đạp lên những lá dầu kêu rôm rốp. Trên đầu họ ong kêu vù vù là muôn ngàn người đương trò chuyện trên ngọn cây. Những miệng dầu bị đốt, hả miệng đen ngòm dưới ngọn cây"(4).

Trong Đò Dọc: "Trái sao, trái dầu bay đẹp mà rơi cũng đẹp. Nhưng trái trắc bay trông lại buồn cười. Cánh của trái ấy không chia ra hai nhánh, hoặc bốn nhánh mà lại bao quanh tròn cả trái. Trái trắc, nếu gió to thì bay cuồng loạn lộn nhào, còn nếu gió nhẹ thì bay như dĩa bay mà các cô thấy trong chiếu bóng...".

Dù không đưa ra tư tưởng lớn nhưng Bình Nguyên Lộc có những triết lý về cuộc đời. Hùng, một anh sinh viên "trường thuốc" vốn sợ xác người chết, nhưng ngày kia gặp xác một người phụ nữ có thể từng là người anh yêu, đã thay đổi thái độ. "tôi không còn đau khổ vì cái chết vất vả của người tôi yêu nữa mà đau một niềm khác anh à. Tôi đau cho cái nghĩa của đời con người liền sau khi chết. (...) Tôi sẽ làm cho sự sống còn hoài, không những đánh bại bịnh tật, mà cả sự già mòn nữa" (Ba Sao Giữa Giời, VN tr 55). Tỳ Vết Tâm Linh (19 ) nói đến khía cạnh tâm thần với những ám ảnh, động lực sống của các nhân vật.

Xin mở dấu ngoặc nói đến một chi tiết trong truyện ngắn Rừng Mắm nổi tiếng là hay nhất của ông. Theo Bình Nguyên Lộc tả trong truyện, cây mắm là những "cây không dùng được để làm gì cả, cho đến làm củi chụm cũng không được", mọc nhiều thành "rừng". Theo Lương Thư Trung, một văn hữu ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, thì cây mắm "là một loại cây tạp, có thịt cứng, và mọc thành rừng tại những nơi gần bờ biển. (...) Lúc còn nhỏ, cây mắm có nhánh um tùm. Về sau cây mắm lớn thêm, những cành nhánh nhỏ này tự động rụng hết, để bắt đầu đâm chồi mới cho tới lớn làm củi được". Ông Trung đã dọ hỏi nhiều người quen từng biết cây mắm và ngay chính bản thân ông sau 1980, khi "học tập cải tạo" về, từng phải vác củi cho lò gạch, đã từng vác những thân cây mắm "dài cở một thước" (5). Với tất cả quí mến văn tài Bình Nguyên Lộc. thiết nghĩ chi tiết này cũng nên được ghi nhận. Chính Bình Nguyên Lộc đã gián tiếp cho biết đã viết gợi hứng từ một bức tranh vẽ (6).

Nhiều truyện của ông thực ra là những tùy bút như các truyện trong Mưa Thu Nhớ Tằm và Tình Đất. Trong các tùy bút này, Bình Nguyên Lộc tỏ ra là một người yêu quê hương xứ sở. Tình yêu định nghĩa nhớ quê là một đề tài hay được Bình Nguyên Lộc khai thác. Trong truyện Thèm Mùi Đất, tác giả nói thay nhân vật : "Đất có mùi thật sự, nhứt là đất mới xới, một mùi rất đặc biệt mà mũi họ quen ngửi cho đến ghiền, thiếu thì họ nghe thèm. Họ thấy rằng họ hạnh phúc vì họ được thỏa mãn tình cảm. Tình nhớ xứ, nhớ nhà gồm nhiều yếu tố, mà nỗi thèm mùi đất là một yếu tố quan trọng. Nỗi thèm này có khi mãnh liệt như nỗi thèm mùi khói thuốc phiện của những con thằn lằn, những con chuột lắt sống trong buồng của những kẻ hút thuốc phiện, (...).". Các truyện trong tập Tình Đất (1966) như Những Đứa Con Thương Của Đất Mẹ, Bán Ngôi Nhà Cổ, Những Ngôi Mả Tổ, Phân Nửa Con Người, Chiếc Khăn Kỷ Niệm, Bám Níu,... viết về những con người sống không thể rời mảnh đất tổ tiên, quê nhà.

Đến Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình Nguyên Lộc và Thầm Lặng là hai tập bút ký đặc sắc về Sài Gòn và con người sống trong cái bưng bít của chốn thị tứ bủa vây bởi chiến tranh và xáo trộn, đổi đời. Tình đất điển hình, nên Bình-Nguyên Lộc đã nhiều lần chỉ trích nghiêm khắc những gì là ngoại lai, là xa lạ. Như trong Đò Dọc, ông cho rằng thành phố Sài Gòn không có dân chính gốc mà toàn là thương gia và dân công chức tạm trú làm ăn, ca dao, tục ngữ cũng không có gì đặc sắc (ĐD, 43-44?). Cứ như các thành phố Washington, Ottawa, Atlanta,... toàn là dân ngoại ô đến đó làm việc ban ngày.

Là người chủ trương tờ Vui Sống chỉ ra được 10 số, Bình Nguyên Lộc có nhiều truyện vui và đã xuất bản tập truyện Tâm Trạng Hồng (1963). Các truyện trong tập này kết thúc bất ngờ gây thích thú ngạc nhiên nơi người đọc. Tập Tân Liêu Trai (19 ) còn chứng tỏ ông là người thực tế. Truyện trong tập này có vẻ quái đản nhưng kết cục khoa học thuần lý thay vì phải là hoang đường như các truyện thuộc cùng loại. Với Bình Nguyên Lộc, người đọc biết không có ... ma! Bình-Nguyên Lộc có lối khôi hài duyên dáng và nhân vật buồn của ông cũng ít quan trọng. Sự việc có bi ông nói qua loa, còn để nói chuyện bông đùa, vui vẻ. Đò Dọc là sân khấu hài của nhà văn Bình-Nguyên Lộc, từ ông Nam Thành, đến các cô con gái, cậu "công tử" Quờn,.. Trong lời nói cũng như cảnh được tả. Nhưng cũng trong Đò Dọc, cái vui nhộn có hơi nhiều, mất cả tự nhiên, như khi các cô đang mong Bằng lâu không đến thì một cô "kêu rú lên" và Bằng xuất hiện! Hay phải bất ngờ đến thế?

Bình-Nguyên Lộc hóm hỉnh trong cách tả cảnh lạ: "Đèn pha trên xa lộ bắt tréo nhau như những lưỡi gươm dài mà mấy tay hiệp sĩ dạ khách khổng lồ nào đang so kiếm giữa đêm trường" (ĐD tr 44). Hay: "Kên kên bị đốt lửa mang theo mỗi chú một cục lửa đỏ lòm trong bầu trời đen của đêm vừa xuống" (ĐD tr 78).

Phong cách kể chuyện hài hước dễ dãi trở thành đặc điểm quyến rủ. "Tác giả thiên truyện võ hiệp "Sơn đông kiếm hận lục lạo khắp cả các ngăn của chiếc bóp phơi của chàng mà chỉ tìm được có mười bốn đồng, nằm ở ba nơi khác nhau. Chàng mừng rỡ biết bao mà chợt nhận ra rằng còn một ngăn nữa, ngăn bí mật rất khó thấy vì nó lẫn với bao ngoài của cái bóp. Chàng thọc tay vào đó và tim chàng bỗng đập thình lình vì đầu ngón tay chàng đụng phải thứ giấy mềm quen thuộc. Dương Châu kẹp tờ giấy ấy bằng hai đầu ngón tay rút ra thì ô hô, đó là tờ giấy hai đồng" (Quán Tai Heo, tr. 76).

Chính cuộc đời làm báo đã hại giá trị văn chương các tác phẩm của ông. Như ông đã kể trong bài "Vài kỷ niệm viết lách với Thanh Nam" (7), nhà văn viết tiểu thuyết trên các nhật báo ở miền Nam thời bấy giờ thường viết vội vàng, ngay cạnh máy in, được câu nào đưa thợ xếp chữ câu đó, hay kéo dài và xuống hàng. Tiểu thuyết Đò Dọc là dấu vết, hễ chấm câu là xuống hàng, khi in đã không sửa lại. Cao điểm là năm 1957, ông viết mỗi ngày 11 tiểu thuyết cho 11 nhật báo (x). Do đó không viết một hơi, viết trước, các tiểu thuyết của ông cũng như nhiều nhà văn khác trong cùng hoàn cảnh đã không được sáng tác theo kiểu chăm sóc. Và tình tiết kết cấu nhiều khi bừa bãi, dài dòng khi không cần thiết. Có thể nói ông kể chuyện hơn là viết tiểu thuyết. Bình-Nguyên Lộc đành thúc thủ theo cuộc sống thời đại máy móc vậy, nhưng ông nghĩ: "Khi mà ai cũng vội vàng cả thì người ta sẽ đánh giá trên cái gì còn lại của mỗi nhà văn trong không khí hấp tấp chung đó" (8). Chính Bình Nguyên Lộc đã tiết lộ ông viết nhiều như vậy bắt nguồn từ lời khuyên của nhà văn Nhất Linh viết đều và hứng sẽ đến như Thạch Lam từng áp dụng (9).

Bình-Nguyên Lộc mặt khác dễ dãi về hình thức:

-kỹ thuật truyện ngắn hay tiểu thuyết gần như nhau

- tác giả hay lẫn thể loại, đang kể ngôi thứ ba thì cho cái "tôi" nhảy vô lý luận thay cho nhân vật: "Ở thôn quê miền Đông, nhứt là ven các con lộ, không hiểu tại sao trong vòng mười lăm năm nay cỏ bù xít mọc nhiều quá. Các bạn biết thứ cỏ ấy chăng? Đó là thứ cỏ..." (ĐD 214)

Không văn chương với lý thuyết lớn lao, không phân tích tâm lý theo học thuyết này nọ, không nhắm chiếu trên chiếu dưới, ông viết như sống, bình dị, ... Ông không diễn tả tâm lý nhưng hay phân tích tâm lý như một người sành sõi, nhìn khắp, tinh quái có, dai dẳng có, mà thường là đôn hậu! Một tâm lý bình dị của con người trong cuộc sống thường nhật, những cảm nghĩ như mọi người. "Liên nghe qua thì biết Sang giờ này vẫn còn ngồi đó đợi Ngọc về mới cởi giầy, Ngọc tưởng hắn cũng chỉ mới về trước đây một phút thôi. Không lý gì mà Ngọc nói đến giày vớ khi Sang đang làm công việc khác..." (NCMA, t2, tr.18). Làm như giữa tác giả và độc giả như không có biên giới, có thể hiểu nhau, tâm sự hay đối thoại không mặc cảm, ...

Bình-Nguyên Lộc tinh quái nhưng đôn hậu khi tả một anh chồng ao ước có cô vợ bé khi thấy nhà giàu lắm vợ:

"Chưa có vợ mà Khánh đã gầy sút đi vì mất ngủ. Mất ngủ vì lo toan phương tiện tài chánh mà cũng vì bận tính mọi việc xẩy ra ở các nhà vợ bé.

Chín giờ chàng lắng đợi chiếc xì-po hai chỗ ngồi của cái ông mặc áo con chim con cò. Chàng tưởng tượng cô Mari đang uyển chuyển bước ra mở cửa rồi nhảy ra bá lấy cổ lão cao bồi già. (...) Mỗi ngày đi làm bốn buổi Khánh đều ghé qua cô hàng thuốc lẻ ở đầu đường V. Vì ở đó có đền đỏ, không ngừng cũng không được. Mà ngừng một lần thì nó bắt phải ngừng hoài vì cô bán thuốc mặt rỗ hoa mè trông có duyên ớn" (Ngõ Hẻm Vợ Bé).

Luân lý lành mạnh, lạc quan, hồn nhiên, vui tươi theo truyền thống "Nam-kỳ". Và cấu trúc một câu chuyện, thường Bình-Nguyên Lộc chú trọng đến chi tiết, thật nhiều chi tiết và chính những chi tiết này đã đưa đến cho người đọc sự thích thú, đã đọc là phải đọc đến đoạn cuối. Trong Thí Một Con Chốt ( ), người hào hiệp như Tư Khâm sau lại là một tên phản loạn và cô gái gọi ông là ba đó cũng chỉ là phường bịp bợm, toa rập với Tư Khâm để cướp ăn của người khác ??

 

2. Nhà thơ:

 

Bình-Nguyên Lộc còn là một nhà thơ; ông có tập Thơ Tay Trái (10) và một cuốn tiểu thuyết bằng thơ tựa Thơ Ba Mén. Đoạn khai từ Thơ Ba Mén như sau :

 

"Lạnh thấm lòng, mưa mai lác đác,
Quán bên hè, uống tách cà phê.
Nhìn ghe bồng chạnh tình quê,
Rưng rưng nước mắt: tư bề người dưng.
Bến Ông-Lãnh màn mưa bao phủ,
Ghe thương hồ ủ rũ dưới kia
Ghe ơi, vài bữa ghe về,
Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?
Mùi đất nước ruộng bùn phảng phất
Nhớ cố hương ngây ngất lòng sầu
Năm năm, bao cuộc bể dâu?
Phút giây ôn lại như hầu hôm qua(...)"

 

Tập truyện ngắn Tình Đất mở đầu với bài thơ "Dâng Má Thương":

"Từ đáy thời gian, dậy tiếng ru
Ù ơ lời má, giọng trầm phù,
Má ơi, hồn đất bao năm thiếp,
Bỗng chốc trưa nay vắng, tít mù ...
Kẽo kẹc xà nhà tiếng võng đưa,
Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa;
Thổ ngơi thơm phức; hồn ma cũ.
Lòng rộn vui mà mắt lệ mờ (...)

 

3. Nhà báo :

 

Ngoài mười hai năm làm công chức Sở Kho bạc trước khi theo kháng chiến chống Pháp, ông sống về nghề viết báo rồi làm báo chuyên nghiệp từ 1952 xen lẫn với những thời kỳ chỉ viết văn. Ông từng viết cho tờ Thanh Niên (1942) sau đó là các tạp chí Nhân Loại, Bách Khoa, Văn, Nghệ Thuật, v.v.

Bình Nguyên Lộc chủ trương tuần báo Vui Sống (1959) và làm tổng thư ký nhật báo Tin Sớm (1964?). Ngoài ra ông còn chủ trương nhà xuất bản Bến Nghé xuất bản phần lớn tác phẩm của chính ông

 

4. Nhà biên khảo :

 

Ngoài một vài bài nghiên cứu về cổ văn viết chung với Nguiễn Ngu Í về Tự tình khúc, Tì bà hành, Trường hận ca, Chiêu hồn, v.v., và tập khảo luận đối chiếu Khinh-Tâm Bệnh Và Sáng-Tác Văn Nghệ viết chung với trưởng nam Tô Dương Hiệp, Bình Nguyên Lộc còn là tác giả hai công trình nghiên cứu về ngữ học Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam và Lột Trần Việt Ngữ. Đầu thập niên 1970, Bình-Nguyên Lộc có vẻ sáng tác ít lại, có thể vì đam mê nghiên cứu, đam mê ông đã bắt đầu từ thập niên 1950 với Phù Sa viết về cuộc Nam tiến.

Tập Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam xuất bản năm 1971 dày gần 900 trang, dựa trên nhiều tài liệu khảo cổ và nhân chủng học, kết luận dân Việt không gốc Hán mà từ biển vào. Từ khi được xuất bản, công trình của Bình Nguyên Lộc đã được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo, trích dẫn. Theo tiết lộ của nhà văn Võ Phiến (11) thì đây chỉ mới là tập 1 vì Bình Nguyên Lộc đã viết xong tập 2 chưa kịp xuất bản thì xảy ra biến cố 1975.

Trong các sáng tác, hơn một lần, Bình-Nguyên Lộc đã nêu những hiểu biết về ngôn ngữ của mình. Trong Đò Dọc, ông phân biệt con chàng hiu với con chẫu chuộc của miền Bắc (tr. 63), bánh xèo với bánh khói của người Huế (tr. 17), v.v. Trong các truyện ngắn viết cuối đời ở hải ngoại, ông thiên về khám phá nhân chủng và ngôn ngữ, trong khi trước đó đôi bận ông đã để lộ sự lưu tâm thường trực này của ông, như một đoạn lạc lõng trong tiểu thuyết Đò Dọc: "Chỉ có vào ở vài ngày trong một làng dựa sông Đồng Nai trên Biên Hòa, cảnh đẹp hơn dưới mình, người rất văn vật, và lòng người, chí rất Việt Nam chớ không phải là tao loạn tâm hồn Cao Miên, Ấn Độ, Trung Hoa như ở vài làng dưới ta là cái ngã ba văn hóa Hoa Ấn" (tr. 65).

Cá tính miền Nam lục tỉnh đã rõ rệt trong nhiều tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, qua ngôn ngữ, nhân vật, qua nhân sinh quan lạc quan theo truyền thống Nam-bộ và một tình yêu đất đậm đà của tác giả. Cá tính này, ngoài Bình Nguyên Lộc, còn lộ rõ hơn nữa với các nhà văn Sơn Nam, Lê Xuyên, Ngọc Linh,v.v. Và một Bình-Nguyên Lộc còn lại trong lòng người đọc của ông như có lần ông đã trả lời với nhà văn Nguiễn Ngu Í đã dẫn ở trên, phải chăng là phong cách lục tỉnh bình dị và cởi mở, không làm dáng, ráng làm vui, xuề xòa, không lý thuyết văn chương , v.v. Nhưng rõ rệt Bình Nguyên Lộc ý thức sứ mạng văn chương của mình và ông vẫn được xem là nhà văn điển hình miền Nam.

 

Nguyễn Vy-Khanh

 

----------------------

Chú:

 

(1) Lê Phương Chi. "Phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc". Tin Sách số 2-1965, tr. 24.

(2) Nguyễn Nam Anh. "Phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc". Văn số 199 (1-4-1972(, tr. 2.

(3) Phỏng vấn NNA bđd, tr. 5.

(4) Trích lại từ Sơn Nam. "Đọc tác phẩm đầu tay của Bình Nguyên Lộc". Thời Tập số 12, 1974, tr. 6.

(5) "Cây mắm trong "Rừng Mắm" của nhà văn Bình Nguyên Lộc" Văn Học Nghệ Thuật 12-1997.

(6) Nguiễn Ngu Í. Sống Và Viết Với .... Sài Gòn : , (Xuân Thu tb), tr. 234.

(7) Văn Học (CA), 18, 1987, tr. 19-24.

(8) Nguiễn Ngu Í. Sđd, tr 232.

(9) Lê Phương Chi. Bđd, tr. 23.

(10) Theo Hoàng Vyễn Ngư. "Bình Nguyên Lộc". Nghệ Thuật, 196 , tr. 28.

(11) "Bình Nguyên Lộc, một nhân sĩ trong làng văn". Tuyển Tập Bình Nguyên Lộc (Paris: An Tiêm). Tr. X.