Cảm Nghĩ Về
Sự Thích Hợp Của Thể Thơ Tân Hình Thức
Trong Thi Ca Việt Nam

 

Bùi Tiến

 

Đây không phải là một bài khảo luận về thơ Tân Hình Thức (THT). Cũng không phải là bài nhận xét quy mô, theo một công trình nghiên cứu khoa học nào, mà chỉ là cảm quan của một người thưởng thức nghệ thuật theo cảm xúc và trực giác với sự thẩm thấu tự nhiên một cách bình thường về sự thích hợp của thể thơ THT trong thi ca Việt Nam.

Rất đồng ý với nhà thơ Tùng Linh, The Silicon Band, ngày 10/4/2001, là "Còn về việc thơ THT có hợp với tâm hồn, xã hội Việt Nam không thì lại là vấn đề khác."

Tuy nhiên, tôi thấy dù là "việc khác" nhưng chính lại là điều quan trọng cần phải nói đến, nếu không trước thì cũng nên, cùng thời với việc bàn về thể thơ. Nếu không thích hợp thì chắc cũng không nên mất nhiều thì giờ bàn luận sâu xa về một thể thơ ngoại quốc làm gì, chỉ cần đủ cho trà dư tửu hậu.

Hơn nữa, nếu thể thơ thích hợp với ngôn ngữ Việt Nam và sự phát triển của nó là điều thật cần thiết thì phong trào đã nổi lên từ lâu rồi. Còn như nếu thể thơ không thích hợp thì thời kỳ phôi thai của nó, nhanh hay chậm, chắc cũng ít người quan tâm.

Nhớ lại khi phong trào Thơ Mới vừa lên, số báo chí tiếng Việt trên toàn cõi Việt Nam thời đó còn đếm được trên một bàn tay và phương tiện truyền thông còn quá sơ khai, thế mà đã tạo nên một cuộc tranh luận thật hăng say và hùng hồn giữa nhiều nhà thơ thời danh, cũ cũng như mới.

Ngày nay, chỉ riêng ở một thành phố hải ngoại có người Việt sinh sống, nếu tôi không lầm, số báo chí Việt ngữ đã có thể gấp bội số báo Việt ngữ trên toàn cõi Đông Dương thời "phong trào thơ Mới". Thêm vào đó, phương tiện truyền thông, Internet ngày nay quá tối tân, số người làm thơ trung niên và trẻ tăng lên gấp bội. Thế mà chưa thấy có một sự chú ý nào đáng kể, quốc nội cũng như quốc ngoại, thiết tưởng đã nói lên phần nào sự thích ứng và thành công của thể thơ trong tiếng Việt.

Những nhà thơ chủ trương du nhập thể thơ THT nói rằng "đối với thơ Việt, khi dùng lại hình thức 7, 8 chữ hay lục bát là làm cho thị giác đỡ bị vướng mắc, dễ tạo nhạc tính, hình ảnh và áp dụng các yếu tố khác..."

Tôi đồng ý rằng thể thơ cũ Lục bát, Song Thất Lục Bát, Ngũ ngôn, Thất ngôn,... dễ tạo nhạc tính, hình ảnh. Cũng vì vậy mà dân quê VN, nhất là giới phụ nữ thời xưa, không biết đọc dù Nôm hay Quốc Ngữ, thế mà thuộc nằm lòng Kiều, Quan Âm Thị Kính, Tống Chân Cúc Hoa, Chinh Phụ Ngâm,... bằng cách truyền khẩu. Hoàn toàn vì âm điệu của các bản văn và không có "thị giác vướng mắc".

THT chú trọng quá nặng về âm thanh (sound) trong thơ và cố tình tách rời meter khỏi vision. Vì quá bị ám ảnh bởi sound và style nên họ đã cố tình tự xa rời khỏi cái thế giới mà họ định kể/ tả, làm ra vẻ thuật sự một cách khách quan. Thêm vào đó, chịu ảnh hưởng quá hời hợt nhưng mãnh liệt của đời sống Hoa Kỳ nên hầu hết thơ nói về sự cô đơn, sự trống rỗng, sự bất túc, sinh lý,... mà ít có bài nói về đi sống sinh hoạt bình thường, mặc dù là họ nghĩ rằng đổi thay là để phản ảnh đời sống thực bình thường. Và vì thế, những điều họ trình bầy thật là phiến diện và vội vàng. Ví dụ thì nhiều, chỉ e dẫn chứng lại hóa ra tôi cố ý đưa ra hình ảnh không thích hợp (offensive)

Theo tôi hiểu, THT tách rời chất thơ (poetic vision) ra khỏi âm thanh (sound) và nhấn mạnh ở phần âm thanh. Quá chú trọng đến âm điệu (âm tiết, meter) đến độ làm cho chất thơ trong bài thơ của họ không phản ảnh chủ đề (theme) hay nội dung (contents) nữa vì theo bản chất, chất thơ nội tại (exist ) nơi tiếng địa phương (dialects), ngôn ngữ (languages) và cảm quan (perception). Tôi muốn nói sự rung động, cảm giác của con người chịu ảnh hưởng của văn hóa, sinh hoạt xã hội. Việc tìm kiếm một thể thơ thật khách quan, tách ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa của một dân tộc là điều không tưởng.

Cũng như nói đến "nghệ thuật khách quan" là điều tôi không hiểu được, vì tôi thấy nói đến nghệ thuật là phải chủ quan. Nếu cái cảm quan của người làm nghệ thuật phù hợp với cảm quan của đại đa số thì nó mang tính cách khách quan. Sự tích lũy của những cảm quan loại này tạo nên cái mà chúng ta gọi là Văn hóa với sự dự trù rằng (with a reservation that) cũng như bất cứ một giá trị (value) nào, văn hóa cũng sẽ thay đổi theo thời gian và không gian.

Những bài thơ THT Hoa Kỳ nghe thấy hay, thường thường là có iambic feet và nhiều assonance (giống vowel khác ở consonant , ví dụ fade, date, late) và alliteration (starting consonant giống nhau) và đấy cũng là sự thành công một thời của nhạc Rap.

Nói một cách đơn giản thì Meter là chỉ âm điệu đọc hay kể theo một nhịp, nhấn hay không nhấn, nào đó.

Metric unit gồm trọng âm (nhấn) và khinh âm (không nhấn)

Iambic foot là âm không nhấn tiếp theo sau là một âm có nhấn. Ngược lại, nếu âm nhấn đi trước âm không nhấn, là Trochaic foot.

Trong tiếng Việt, nếu đếm số âm trong một chữ thì mỗi chữ chỉ có một âm vì tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn âm. Tự bản thân một chữ đã có một âm hoặc trọng hoặc khinh rồi. Dù là bằng hay trắc, chỉ có thể hoặc phù hoặc trầm nên không có Iamb hay Trochee trong một chữ, chứ đừng nói đến Anapest hay Dactyl.

Nếu nói là đếm âm theo nhóm chữ có nhẹ có nặng để khi phát âm có nhấn có không theo một âm hưởng nào đó, nhạc Rap chẳng hạn, thì cũng thử nhìn vào ngôn ngữ Việt. Một chữ có thể có 5 dấu Sắc, Huyền Hỏi, Ngã, Nặng và không có dấu , thì tự nó đã có thể có tới bốn thế Nặng (Trắc hay Nhấn) mà chỉ có hai thế Nhẹ là Phù và Trầm Bình Thanh. Như vậy thế nhấn chiếm tới 2/3 đa số và hơn 3/4 nếu coi Trầm bình Thanh cũng thuộc âm nhấn. Càng nhiều hơn nữa nếu coi thanh Phù và thanh Trầm của âm Trắc là hai loại âm nhấn khác nhau. Điều này chứng tỏ tiếng Việt nếu dùng vào lời cho nhạc Rap chẳng hạn, đã rất nặng nề chứ đừng nói đến các văn thơ muốn ghé âm hưởng của nhạc Rap, loại nhạc chủ về nhanh.

Dù cho có gom nhiều hơn một chữ lại để có một pattern gồm âm nhấn với không nhấn theo dạng meter của tây phương, khi đọc cũng không thể nuốt âm không nhấn đi được và dù nhanh đến đâu cũng vẫn phải là một âm Việt có nghĩa, nếu không câu nói (thơ) sẽ trở thành một thứ tiếng của đồng bào hay dân tộc khác. Thành thử, đếm pattern của âm nhấn hay không nhấn khác hơn là đếm pattern của chữ trong thi văn Việt có thể là điều không đúng.

Do đó, cho tới bây giờ, với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về thể thơ THT và về ngôn ngữ Việt, tôi thấy trong tiếng Việt, mỗi chữ phải là một nguyên tố, một đơn vị nhỏ nhất không thể phân nhỏ hơn được. Dù định nghĩa meter là âm tiết hay thể luật hay gì đi nữa, thành phần của meter (metric unit) phải là chữ không mang dấu hoặc mang một trong năm dấu. Chữ tôi muốn nói ở đây là chữ tự nó có nghĩa (word) chứ không phải là một trong 23 chữ cái (alphabetic letter).

Hơn nữa, khi nói về vần, chúng ta thấy tiếng Việt chỉ có vần đực (masculine rhyme) chứ không có vần cái (feminine rhyme).

Vì chữ chỉ có độc âm và vần cộc (đực) nên THT áp dụng vào tiếng Việt sẽ giảm âm hưởng đi nhiều so với các ngôn ngữ đa âm. Ngoài ra khi gom một nhóm chữ có âm trọng âm khinh theo iambic hay trochaic foot thì sẽ trở nên gượng ép, giả tạo và không có căn bản cho sự đồng nhất.

Khi đọc hay kể thơ đơn âm, phần lớn tùy thuộc vào sự cảm nhận và hứng thú của người đọc. Vì vậy ngay những chữ có trọng âm, khi kể vẫn có thể không nhấn và những chữ có khinh âm vẫn có thể được nhấn, cả hai đều có tác dụng mong muốn, nhất là khi phù hợp với hơi thơ và cảm xúc. Cũng tương tự như khi kể hay đọc truyện ma hay truyện thần tiên mà thôi.

Việc chủ trương một chữ không dấu hay có dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, hoặc một chữ bắt đầu hay kết thúc bằng nguyên âm hay phụ âm, v.v. được coi là có âm nhấn hay âm không nhấn là điều cần được định nghĩa, đồng ý và chấp thuận chung cho cả người viết lẫn người kể (đọc). Nếu không, người đọc thẩm âm như thế nào sẽ kể như thế. Và như vậy, khi người đọc nhìn những hàng chữ dài, ngắn, lên, xuống, ra, vào, một cách vô lý và không có nghĩa (ít nhất là đối với họ) họ sẽ không có hứng thú và hậu quả tất nhiên là không thể kể được chứ đừng nói là kể đúng ý tác giả. Khi đó, người có hứng thú kể một bài thơ đúng ý tác giả không ai khác hơn là chính tác giả, và chỉ có tác giả. Ngay như với chính tác giả của bài thơ THT, tôi tin rằng nếu không tập rượt đầy đủ đến thuộc nằm lòng, khi bảo kể bài thơ của mình, chắc chắn ba lần sẽ khác nhau cả bốn.

Thường thì dấu phẩy, chấm phẩy và dấu chấm được dùng để ngắt câu khi ý đã gọn hoặc nghĩa đã tròn cũng như để nghỉ khi đọc. Trong thơ, xuống hàng khi không có dấu cũng là một cách đã được hiểu là ý đã gọn. Vì ý đã gọn rất rộng nghĩa, nên xuống hàng được sử dụng một cách cởi mở hơn để diễn tả một dụng ý nào đó.

Hiển nhiên người viết thơ văn có toàn quyền dùng chữ, ngắt câu, xuống hàng, chấm, phết, gạch, xóa,... theo ý mình một cách độc đoán. Tuy nhiên, để có sự cảm thông giữa người viết và người đọc, thường phải có một quy ước nào đó đã được chấp nhận bởi hai bên, minh thị hay mặc thị. Nếu ông nói gà bà nói vịt thì cần phải có dẫn giải, ví dụ và chứng minh. Nếu đã giải thích mà người đọc vẫn còn thấy không hiểu hoặc vẫn thấy là dị hợm, chắc chắn "tác phẩm" đó sẽ không có cách nào được đọc đúng với ý của người viết và do đó không thể thành công được.

Riêng về lối vắt dòng, ta thường gọi là xuống dòng, của thể thơ THT, các nhà thơ Hoa Kỳ đã cắt ngang một chữ khi vắt dòng, thí du.:

 
Or laugh, Sir John, at what they'll call
     Men's Fate:
"Two clocks and still his wives were al-
     Ways late!"
(Max Gutmann)
 
then down across a barbed-wire gated pasture -- early emerald rye-
     grass, sumac in the dip --
to where a brook, high withể run-off from a morning storm broad-
     ened and spilled over --
turgid, muddy viscous, snagged here and there withể shattered branches
     --in a bottom meadow.
(C.K. Williams)

Tôi tin là nhóm chủ trương thơ THT Việt Nam không có ý định cắt chữ như vậy, nếu không, có thể sẽ gây ra nhiều điều kỳ thú. Vì tiếng Việt mình nhiều khi cắt một chữ ra, nó lại thành những chữ có nghĩa hoàn toàn khác. Ví dụ câu "Mặt nguyệt lộ ra", nếu cắt chữ "nguyệt" ra làm đôi rồi vắt dòng kiểu Hoa Kỳ, sẽ thành :

Mặt ngu-
yệt lộ ra

Câu văn đang thơ mộng trở thành kỳ quặc. Thành thử, nếu vắt dòng giữa một chữ đơn là điều không thể chấp nhận, mà nếu có thì cũng chỉ nên chấp nhận trong thi văn hài hước hoặc châm biếm, cố tình bẻ chữ ra để tạo một nghĩa mới vui hoặc mỉa mai, sóc óc. Còn như vắt dòng giữa chữ kép thì cũng là một cách chơi chữ và làm cho văn, thi pháp đổi thay. Có điều như vậy cũng không qua khỏi lối thơ chơi chữ cổ điển và nhất là lối thơ Bút Tre gần đây.

Tôi khâm phục những người tiên phong trong mọi công trình tìm cái mới, nhất là trong lãnh vực thi văn. Hy vọng là với những biến chuyển về sau này có thể tạo cho tôi một cảm nghĩ khác, mong lắm thay.

 

Bùi Tiến